Skip to content
  • ĐĂNG KÝ LÀM THẺ
  • ĐĂNG KÝ TẢI TÀI LIỆU SỐ
Thư viện Nguyễn Văn Hưởng

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng

CỔNG THÔNG TIN – NVH LIBRARY'S PORTAL

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu thư viện
    • Đội ngũ nhân sự
    • Liên hệ
    • Báo chí
    • Tuyển dụng
  • Dịch vụ thư viện
    • Câu hỏi thường gặp
    • Bảng giá dịch vụ
    • Đăng ký làm thẻ
    • Đăng ký tài khoản Thư viện số
  • Tài nguyên
    • Blog tư liệu
    • Xuất bản
    • Tin tức
  • Danh mục sách
  • Thư viện số
  • Trưng bày trực tuyến
  • Toggle search form
  • Tội phản quốc của tên Việt gian Quản Dưỡng với cuộc nổi dậy của dân chúng Hà Đông Blog tư liệu
  • Quốc thư trao đổi giữa vua Louis XIV và Chúa Trịnh năm 1681 Blog tư liệu
  • Đầu xuân thăm cảnh xứ Đông Blog tư liệu
  • Tư liệu báo chí xưa về Cách mạng tháng Tám Blog tư liệu
  • Bí mật về “chuồng cọp” Côn Đảo đã được phát hiện như thế nào? Blog tư liệu
  • Hồ sơ Lầu Năm Góc: Pháp thúc giục Mỹ can thiệp vào Điện Biên Phủ Blog tư liệu
  • Đông Dương thuộc Pháp cuối thế kỉ 19 Blog tư liệu
  • Bộ luật Hồng Đức bảo vệ quyền của phụ nữ như thế nào? Blog tư liệu
  • Đứng về phía Pol Pot: Hoa Kỳ hỗ trợ Khmer Đỏ Blog tư liệu
  • Chẳng có chuông nào rung cho hòa bình Blog tư liệu
  • Những bước bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Blog tư liệu
  • Chính quyền Ngô Đình Diệm và hai vụ đảo chính, ám sát hụt Sihanouk Blog tư liệu
  • Tết cổ điển – Hồi ký của Ngô Tất Tố Blog tư liệu
  • Sự kiện Nhật đảo chính Pháp tháng 3/1945 qua Hồi ký Đại sứ Nhật Masayuki Yokoyama (Kỳ 1) Blog tư liệu
  • Cuộc khủng hoảng nhà ở Hà Nội cuối thập niên 80 Blog tư liệu

Phùng Khắc Khoan: Ngoài 70 tuổi còn đi sứ Tàu ba lần

Posted on 27/01/202627/01/2026 By editor No Comments on Phùng Khắc Khoan: Ngoài 70 tuổi còn đi sứ Tàu ba lần

Nguyễn Đa Thiện

Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) là bậc danh thần văn võ song toàn của triều Lê Trung Hưng. Ông không chỉ nổi tiếng bởi tài mưu lược và văn chương lỗi lạc, mà còn ghi dấu ấn khi ở tuổi ngoài 70 vẫn ba lần phụng mệnh đi sứ Trung Hoa, đem về nhiều thắng lợi ngoại giao vẻ vang cho đất nước. Tạp chí Phương Đông xin trích đăng lại bài viết về ông trên tạp chí Thể thao Đông Dương, số ngày 30/9/1945, để bạn đọc cùng tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp và công trạng của vị “Trạng Bùng” tài danh này.

Ông Phùng Khắc Khoan, người tỉnh Sơn Tây (Bắc Kỳ), sinh năm Mậu Tý (1528), niên hiệu Minh Đức thứ hai, thời nhà Mạc. Ông vốn con nhà dòng dõi thi thơ, và chính ông là anh em cùng mẹ khác cha với ông Trạng Trình, nên có khiếu thông minh, học rộng, tài cao, biết cả thuật số; khi hiển đạt làm quan nhà Lê, ba lần phụng mạng đi sứ Tàu, biện bạch hoạt bát, làm vẻ vang cho cả nước Việt Nam. Khi ở Trung Quốc về nước nhà, ông được triều đình khen ngợi, nức tiếng gần xa, ai cũng kêu ông là Trạng. Vốn quê ông ở làng Phùng Xá, tục làng Bùng, tỉnh Sơn Tây, nên về sau ông mới tên là Trạng Bùng vậy.

Cổng làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, nay là xã Tây Phương, thành phố Hà Nội – quê hương của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Ảnh: Giang Việt Hưng

Thuở nhỏ, ông là một người học trò lỗi lạc, học một biết mười, được thầy thương, bạn mến. Năm lên 9 tuổi, ông đã biết làm thơ. Đến năm 16 tuổi, ông nổi tiếng học giỏi nhất tỉnh Đoài, lại có biệt tài làm đủ lối thi ca, từ, phú.

Nhằm thời nhà Mạc tiếm Lê, ông là người có chí khẳng khái nên đến khoa thi mà ông không chịu ra thi với nhà Mạc. Khi ông ngoài 20 tuổi, bèn nói với cha già cho đi theo những nghĩa sĩ của nhà Lê vào Thanh Hoá và phò chúa Trịnh ở đất Nội Luỹ giáp Ai Lao. Bấy giờ nhiều người trong nước vẫn nhớ nhà Lê và các quan cựu thần cũng tìm đến làm cho thanh thế rất mạnh. Ông là người thông minh, có mưu lược, nên hết sức giúp nhà Lê. Mùa xuân năm Tân Hợi (1551), ông đem quân ra Bắc đánh đuổi quân nhà Mạc. Ông điều khiển quân sĩ rất có kỷ luật, nên ai cũng vui lòng theo về với ông mưu tính việc phò Lê.

Lúc thiếu thời, ông đã có tiếng là hay chữ, nhưng chí hướng của ông vẫn đắp ở bốn phương, chỉ lãng đãng mưu tính việc giúp nước chứ không ham muốn về đường khoa cử. Năm ông 25 tuổi, thấy nhà Lê có cơ hưng thịnh, nhân khoa thi hương, ông mới chịu sửa soạn lều chõng. Khoa ấy ông đậu Tú tài, cách vài năm sau thì thân phụ của ông qua đời, ông mượn cớ về cư tang[1], song cứ nay đây mai đó như một khách giang hồ, không biết nơi nào là nhất định. Đó là cái nguyện vọng của kẻ nam nhi cố lo cho việc quốc gia được trọn vẹn.

Đến khoa thi năm Đinh Tỵ (1557), ông đã 30 tuổi mới thi đậu Cử nhân. Quan trường đệ các quyển thi lên. Khi vua Lê, chúa Trịnh coi thấy văn bài của Phùng Khắc Khoan có vẻ linh hoạt, giọng văn hào hùng, biết là người mưu chí cao siêu, liền triệu vào phủ chúa phong làm ký lục ngự dinh Vua Lê, phò chúa Trịnh Triết Vương, lúc nào ông cũng đem những việc trung trinh tiết nghĩa tâu lên, chúa Trịnh rất tín nhiệm. Năm sau, vua chúa sai ông đi chiêu dụ những đám xiêu bạt để cho họ về lập thành thôn, thành xã, làm ăn an vui, giữ lấy vẻ thái bình. Khi ấy, ông được thăng Binh khoa cấp sự trung, ít lâu được lên Lễ khoa cấp sự.

Từ khi đậu Cử nhân, được triệu ra làm quan thì lúc nào ông cũng chỉ tính những việc triều đình, lo giữ vững giang sơn của nhà Lê và trung thành với chúa, còn đường khoa bảng dường như ông cũng hững hờ, đằng đẵng trên hai chục năm trời đến năm ông đã ngoại 50 tuổi, đang tại chức Lễ khoa cấp sự, có khoa thi Hội, nhiều bạn bè khuyến khích mãi ông mới lại ứng thí. Bấy giờ là khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Hưng nhà Lê năm thứ 3. Ông thi đậu Nhị giáp Tiến sĩ. Thi xong lại được thăng làm Đô Cấp sự. Qua năm sau được thăng lên chức Công bộ Tả thị lang.

Nói về Vua Lê đóng đô giữ từ Thanh Hoá trở vào, ngoài đất Bắc là giang sơn nhà Mạc. Các tướng nhà Mạc như Mạc Kính Điền, Mạc Đôn Nhượng nhiều lần đem quân vào đánh nhà Lê, lần nào Phùng Khắc Khoan cũng dùng mưu lược đốc quân sĩ ra cự địch, đồng thời hiệp với ông Trịnh Kiểm cùng đánh đuổi quân Mạc, kỳ nào cũng thắng lợi.

Binh sĩ nhà Mạc đã lắm phen phải điêu đứng mà họ vẫn cứ quấy nhiễu. Nhưng bấy giờ tướng sĩ nhà Lê toàn những người đồng cảm, người cầm đầu lại biết cơ mưu, cho nên thế lực nhà Lê bấy giờ càng ngày càng thêm mạnh, bởi vậy nhà Mạc cũng phải kinh khủng. Kể đến đời con ông Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng lại là một thiếu tướng hùng cường vì quân vương, vì đất nước, quyết nối chí của cha, hết sức chống chọi với quân nhà Mạc, đến năm Nhâm Thìn (1592), niên hiệu Lê Quang Hưng thứ 15 mới lấy lại được thành Thăng Long, đuổi họ Mạc lên tận Cao Bằng. Bấy giờ ông Phùng Khắc Khoan liền rước Vua Lê ra kinh đô Bắc Hà, khi ấy ông được thăng Binh bộ tả thị lang.

Nhà Lê đã khôi phục lại được giang sơn cũ, triều đình liền tính việc đặt quan, phân tước, trọng thưởng người có công. Trong dịp này, ông Phùng Khắc Khoan được phong làm Nội luỹ Trung nghĩa kiệt tiết tuyên lực công thần, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, và lại cấp rất nhiều ruộng đất ở quê nhà cho ông hưởng lộc.

Năm 1597, niên hiệu Lê Quang Hưng thứ 20, ông đã 70 tuổi mà tinh thần vẫn minh mẫn, thân thể rất khương kiện, thật đáng tiêu biểu cho đời sau biết rằng, ông đã gồm tài thao lược, văn võ song toàn, tuy tuổi già mà vẫn mạnh. Hơn nữa, triều đình biết ông là người có tài biện thuyết, nên cử ông mang đồ tuế cống qua Trung Quốc dâng Minh đế xin cầu phong.

Trong thời kì ấy, tuy nhà Mạc đã chạy lên Cao Bằng, nhưng con cháu Mạc Đăng Dung vẫn xưng hùng, xưng bá một phương, lại phái người tâm phúc đem nhiều vàng bạc, châu báu qua hối lộ ông Tổng đốc Lưỡng Quảng và mấy cận thần của Minh triều để bênh vực cho nhà Mạc. Bởi thế, khi ông đại sứ Phùng Khắc Khoan đi tới cửa quan ải, các quan Tàu biết là sứ thần của nhà Lê, liền tìm cách làm khó để không cho qua.

Ông đại sứ nhà Lê không ngã lòng, tán chờ mấy bữa rồi làm sớ dâng sang Minh triều kể rõ tình hình gay go giữa nhà Lê với nhà Mạc. Minh đế thấy lời lẽ của sứ thần nhà Lê cứng cỏi, và lại tỏ ra vẻ rất có nghĩa khí trung thành, bèn truyền cho qua cửa quan.

Khi đại sứ Phùng tới Yên Kinh, không chịu theo lối thần phục như nhà Mạc. Các quan Bắc triều lại còn kiếm chuyện hạch sách mãi, ông lại phải một phen biện thuyết rất hùng hồn rồi mới được vào bệ kiến ngai rồng. Minh đế thấy sứ thần nhà Lê đã biết theo lệ tuế cống, liền phong cho Vua Lê là Đô thống sứ. Ông Phùng Khắc Khoan không chịu nhận. Mãi về sau, Quế Vương nhà Minh lập nghiệp ở Quảng Tây mới chịu phong cho Vua Lê là An Nam quốc vương.

Vua Tàu và các quan đại thần thấy viên sứ Việt Nam có tài, ai nấy đều kính phục. Một hôm ông đi theo Vua ra chơi ngoài hoàng thành, nhà vua trông thấy người ngồi câu cá, liền bảo ông vịnh một bài “ngư, tiều, canh, độc”. Ông ứng khẩu vịnh luôn một bài thơ rất hay, vua Tàu rất phục tài, ngỏ lời khen ngợi mãi.

Ông lại kết giao với mấy bực danh sĩ nước Tàu và mấy viên sứ thần Triều Tiên, cùng nhau xướng hoạ rất ý hợp tâm đầu. Mỗi khi người ta ra đầu bài xong là ông ứng khẩu, đáp lại rất lưu loát, 3 người 3 nước cùng xướng hoạ mà ông vẫn chiếm giải khôi nguyên.

Nhân dịp ấy gặp kì lễ Vạn thọ của Minh đế, sứ thần các nước chỉ làm nổi một bài thơ mừng, ông liền làm 36 bài thơ viết vào tờ giấy hồng dâng lên chúc mừng Hoàng đế. Hoàng đế ngự lãm liền châu phê rằng: “An Nam thực có nhiều người giỏi, như lời thơ của Phùng Khắc Khoan đáng là một bậc nghĩa sĩ trung thần, rất nên khen ngợi”. Sau nhà vua trao cho quan Tể tướng đọc đi đọc lại mấy lượt đều tấm tắc khen mãi. Minh đế lại truyền đem in những bài thơ ấy để phát cho khắp dân gian truyền tụng, vua Tàu khen là Trạng nguyên nước Nam.

Đến khi ông Phùng Khắc Khoan về nước được nhiều tặng phẩm rất quý của Trung Quốc mang theo. Về tới kinh đô Thăng Long, ông liền vào chầu vua để dâng ấn sứ của Bắc Triều đã phong cho vua ta và tâu những việc ngoại giao của ông. Vua Lê thấy ông đã đảm đương một cái sứ mệnh rất lớn lao được hoàn toàn, vua lấy làm vui lòng, lại ban thưởng và trọng ông hơn trước.

Qua năm sau là năm 1598, ông lại phụng mệnh đi sứ Tàu lần thứ 2, lần này ông đi được dễ dàng, vua tôi nhà Minh tiếp rước trịnh trọng. Lúc về đều được tiếng khen.

Cách 2 năm sau, nhằm niên hiệu Thận Đức thứ nhất, thời Lê Kính Tông (1600), ông Phùng đã 73 tuổi mà sức lực vẫn hăng hái, dung mạo càng thêm quắc thước, ông chẳng quản cái tuổi đầu bạc răng long, vẫn sốt sắng với việc triều chính, nên nhà vua lại cử ông sang sứ Tàu dâng đồ tuế cống. Lần này Minh đế cùng các quan đại phu thấy ông có vẻ lão mạo mà vẫn một lòng vì nước, phải đi xa, nên vua nhà Minh rất kính mến ông, kêu ông là vị kỳ lão của nước Việt Nam.

Bức chân dung do danh hoạ Trung Quốc vẽ Phùng Khắc Khoan cũng là ảnh thờ của ông tại từ đường họ Phùng, được in lại trong “Từ điển văn học”, NXB Thế giới, 2004. Ảnh: Wikipedia

Lúc bấy giờ, ông làm thành một tập thơ vịnh các cuộc đi sứ, kêu là Sứ trình thi tập. Khi ông sửa soạn về nước, có một vị đại thần của Minh triều quá mến tài ông, trọng vì lão mạo, bèn lưu ông ở chơi nhà riêng, cho vời người hoạ hình đến vẽ cho ông một bức chân dung thật đẹp để tặng ông đem về nước Nam làm kỷ niệm nét bút mỹ thuật của Trung Hoa (Hình này bây giờ vẫn còn để thờ tại nơi từ đường họ Phùng ở làng Phùng, xã Sơn Tây).

Ông ở Trung Quốc về chưa tới kinh đô Thăng Long, thình lình được tin  mấy đảng giặc của nhà Mạc đến quấy nhiễu kinh thành, Vua Lê phải tạm lánh vào đất An Trường (Thanh Hoá). Ông lấy làm căm hờn tụi giặc cỏ kia, rồi đi gặp cho mau về tới nhà hiệp các tướng sĩ đánh đuổi quân Mạc, cố giữ vững thành trì. Toán quân Mạc giả tháo lui, bọn ông đuổi mãi, chẳng dè gặp quân cứu viện của bên địch, thành ra quân ông bị vây. Tưởng rằng thế đã nguy, nhưng nhờ ông có tài cao chí lớn, thừa lúc đêm khuya, ông tìm cách tháo được vòng vây cho quân sĩ và các văn thân cùng chạy thoát ra và gộp lại đánh tan quân giặc, rồi vào Thanh Hoá rước Vua về thành Thăng Long như cũ.

Tình hình trong nước yên ổn, bấy giờ ông là một vị lão thần có nhiều công giúp nước, nhà vua rất kính trọng, bèn thăng chức Lại bộ tả thị lang. Năm 1601, ông được thăng lên Thượng thư bộ hộ và được cấp thêm ruộng đất ở các xã Cù Sơn, Đặng Xá, Hoàng Xá, Hạ Mỗ kế cận quê ông để làm lộc điền. Năm 1602, ông đã 75 tuổi, nhà vua phong cho ông tước Mai quận công, rồi ông phụng mệnh đứng tu bổ mấy ngôi chùa trên núi Sài Sơn. Ông cho cất hai cái cầu là Nhật Tiên kiều và Nguyệt Tiên kiều, coi rất lộng lẫy, ông lại tạc bia kỷ niệm. Cảnh Sài Sơn là một nơi danh thắng của nước Nam, nên Mai quân công thường lưu luyến và ngâm vịnh nhiều bài ghi ở đó.

Cầu Nguyệt Tiên (trên) và cầu Nhật Tiên (dưới) là hai cây cầu trong khu danh thắng chùa Thầy, thuộc khu vực núi Sài Sơn (Hà Nội), tương truyền do Phùng Khắc Khoan cho xây cất trong quá trình tu bổ chùa. Ảnh: Tri thức và Cuộc sống

Nhân thế có kẻ ghen ghét phao vu rằng quan Quận họ Phùng có ý chiếm cứ nơi đó làm giang sơn riêng của mình, vì đó có huyệt đế vương. Bởi nhà vua nghe lời xàm tấu mà ông phải đày vào xứ Mường tước thuộc hạt Nghệ An, xa hẳn chốn đế đô. Ông không lấy làm buồn, tuy tuổi hạc, da mồi mà sức vẫn như ngày còn trai tráng, ông ở chốn thâm sơn, cùng cốc, lấy thú ngâm vịnh làm vui, tiêu diêu cùng tuế nguyệt, lúc ấy ông soạn thành một tập văn nhan đề Lâm tuyền văn từ. Tập văn này tả hết những cảnh vượn hót, chim kêu, ông cho là một tập văn rất quý vì từ thuở nhỏ chưa được gần gũi cái cảnh sơn lâm như thế.

Từ khi nhà Mạc tiếm vị nhà Lê, bọn Mạc Đăng Dung đem tiến cống bên Tàu về rất nhiều vàng bạc và các quý vật. Lúc ấy nhà Lê cũng ganh tỵ với nhà Mạc, hàng năm đem đồ tuế cống khá nhiều để kể tội nhà Mạc và cầu phong, tới chừng nhà Mạc đã suy, nhà Lê Trung Hưng có thanh thế lừng lẫy, việc đi triều cống cũng không trọng hậu như trước. Minh triều thấy vậy lại có ý muốn dòm dỏ nước Nam nên truyền lấy một cây nhiễu màu xanh, viết hai chữ “Thanh thuỷ” rất lớn, cử mấy vị sứ thần đem qua nước Nam tặng vua nhà Lê.

Vua Lê cùng quần thần đều tra cứu, bàn tán đến nửa tháng vẫn chưa hiểu nghĩa bóng của hai chữ “Thanh thuỷ” ra làm sao. Nhà vua mới lại nhờ đến tài của Mai Quận công Phùng Khắc Khoan, liền phái một vị văn thân đến đất Mường Tước, triệu ông về triều. Khi tiếp phái viên của triều đình, ông bèn gửi lời tâu rằng: “Gần đây đã quen cảnh lâm tuyền, không biết việc quốc chính ra sao, xin miễn cho lão chuyện nầy”. Ông nhất định không chịu về. Triều đình nhớ ơn cũ của ông liền cho đem một cỗ xe ngựa đến rước ông mới chịu về.

Vua truyền đưa cây nhiễu cho ông coi, ông vừa ngó thấy hai chữ “Thanh thủy” liền kêu lấy giấy bút viết rằng: “thập nhị nguyệt xuất tốt”, nghĩa là bên Tàu hẹn đến tháng 12 sẽ đem quân sang nước Nam. Triều đình công nhận lời giảng của Mai Quận công là tài giỏi, lật đật viết thư sai đem sang trả lời Minh triều. Vua quan nhà Minh cũng phải phục rằng nước Nam vẫn nhiều người tài giỏi. Bấy giờ, triều đình nhà Minh vẫn còn tưởng nhớ đến những thành tích oanh liệt của dân Việt Nam về thời vua Lê Lợi, nên không tính đến việc động binh nữa, một phần cũng bởi cái tài cao đoán của Mai Quận công Phùng Khắc Khoan mà khiến cho vua Tàu phải khiếp phục. Trong dịp này, ông Phùng Khắc Khoan xin về trí sĩ.

Có một lần chúa Trịnh giả mạng vua Lê sai một vị Thượng thư mang sắc vào phía Nam phong cho chúa Nguyễn. Bấy giờ ông Đào Duy Từ là người lanh lợi giúp chúa Nguyễn, ông biết là việc không chính đáng, bèn bàn với chúa Nguyễn đúc cái mâm đồng 2 đáy để đạo sắc kia ở giữa, rồi phái người mang một phong thơ ra trao cả cho chúa Trịnh. Tại phủ, chúa mở phong thơ ra thấy những chữ “Mâu nhi vô dịch, mịch phi kiến tích, ái lạc tâm tràng, lực lai tương địch”, nghĩa chữ “mâu” không có lông nách, chữ “mịch” chẳng thấy vết chữ “kiến”, chữ “ái” không có “tâm”, chữ “lực” với chữ “lai” cũng “địch”. Chúa Trịnh và các quan trong phủ thấy những chữ ngô nghê đều cho là vô lý, chẳng ai luận ra nghĩa làm sao cả, lại phải cho mang xe ngựa về tận Sơn Tây mời Mai Quận công ở làng Bùng ra để cố vấn.

Ông vừa coi qua một lượt, liền viết luôn 4 chữ rằng: “dư bất thọ sắc”, rồi ông giảng rằng, ý người là nói “ta không nhận sắc đâu”. Ông lại biểu phá cái mâm đồng ra, quả nhiên có đạo sắc của chúa Trịnh sai mang phong chúa Nguyễn ở trong giữa đáy mâm. Khắp cả phủ chúa đều khen Quận công họ Phùng là bực đại tài. Trong nước thấy ông có nhiều biệt tài nên ai cũng kêu ông bằng Trạng nước Nam, cho nên cái huy hiệu là Trạng Bùng còn truyền mãi đến ngày nay.

Phùng Khắc Khoan thật là một ông quan văn võ toàn tài, nào giúp vua đánh dẹp nhà Mạc, nào đi sứ biện thuyết tài tình, nên khi ông xin về trí sĩ, vua chúa làm mấy bài thơ tặng. Sau này, triều đình có việc gì khó giải quyết vẫn phái người về cố vấn ông. Năm 1613, niên hiệu Hoàng Định thứ 14, thời vua Kinh Tông nhà Lê, ông Phùng Khắc Khoan đi vui miền cực lạc, hưởng thọ 86 tuổi.

Triều đình hay tin, lấy làm thương tiếc một vị quốc lão, liền truy tặng chức Thái phó, phái mấy ông quan về hộ tang, cấp thêm ruộng sử điền, mấy năm sau truy tặng làm Thái tể rồi sắc phong Thượng đẳng phúc thần. Hiện nay có lập đền thờ ngài tại làng Phùng Xá (làng Bùng), hàng năm đến ngày giỗ đều cử hành cuộc tế lễ rất trọng thể.■


[1] Cư tang: ở nhà để chịu tang cha mẹ theo tục lệ cổ truyền, không dự mọi cuộc vui, BTV

Blog tư liệu Tags:Hà Nội, ngoại giao, văn hóa

Post navigation

Previous Post: Một vài dân tộc miền núi ở An Nam

More Related Articles

Hà Nội giáp Tết 1967 qua hồi ký của nhà báo Mỹ Blog tư liệu
Tìm hiểu về ruộng Tịch điền và nghi lễ cày Tịch điền ở nước ta qua các triều đại phong kiến Blog tư liệu
Một lễ hội tôn giáo ở An Nam – ngày Tết Blog tư liệu
Joan Baez ở Hà Nội: Lễ Giáng sinh dưới mưa bom Blog tư liệu
Lịch sử Trường Quốc Học Huế Blog tư liệu
Ngoại giao triều Nguyễn trước khi Pháp xâm lược Việt Nam Blog tư liệu

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

  • Tạp chí Phương Đông Official Channel
  • Thư viện Nguyễn Văn Hưởng Fanpage
Tạp chí Phương Đông số tháng 10-2024

Chuyên đề

  • Việt Nam trên báo Mỹ
  • Tạp chí Phương Đông

Kết nối với chúng tôi

Nguồn tài liệu

  • The Vietnam Center and Sam Johnson Vietnam Archive
  • MSU Vietnam Group Archive
  • The Wilson Center Digital Archive
  • The National Security Archive
  • CIA Historical Collections
  • Office of the Historian – U.S. Department of State
  • National Archives
  • Internet Archive
  • United Nations Archives
  • Journal of Vietnamese Studies
  • Harvard-Yenching Library
  • Yale University Digital Collections: Maurice Durand Han Nom
  • Digital Libraries – Gallica – BnF
  • Les Archives nationales d’outre-mer
  • Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient
  • Sách Đông Dương – Thư viện QGVN
  • Thư tịch Hán Nôm – Thư viện QGVN
  • Báo chí số hóa – Thư viện QGVN

Bài mới

  • Phùng Khắc Khoan: Ngoài 70 tuổi còn đi sứ Tàu ba lần
  • Một vài dân tộc miền núi ở An Nam
  • Tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam
  • Việt Nam trên báo Mỹ: Cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam
  • Tài liệu giải mật: Dự đoán của CIA về các ý định của miền Bắc Việt Nam sau khi ký Hiệp định Paris

Lưu trữ

TRƯNG BÀY KỶ VẬT CHIẾN SĨ

Tags

1945 1954 1975 Bảo Đại Báo chí Campuchia Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh Đông Dương chế độ thực dân chủ nghĩa thực dân Chủ tịch Hồ Chí Minh CIA Cách mạng Tháng Tám giới thiệu sách Hoa Kỳ Huế Hồ Chí Minh Hà Nội Mỹ nghệ thuật ngoại giao Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu phong trào phản chiến phong tục phản chiến Pháp POW/MIA Quan hệ Việt - Mỹ Sài Gòn thuộc địa Thập niên 1960 Thực dân Pháp triều Nguyễn Tết tình báo Vietnam War Việt Minh Việt Nam Cộng hòa Việt Nam thời hậu chiến Việt Nam trên báo Mỹ văn hóa Đảo chính Đông Dương Đông Nam Á

Đăng ký

  • ĐĂNG KÝ LÀM THẺ
  • ĐĂNG KÝ TẢI TÀI LIỆU SỐ
  • Nước mắt mùa thu Xuất bản
  • Cuộc chiến của tôi với CIA: Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk Xuất bản
  • Giải phóng Xuất bản
  • Chợ Lớn 1955: Ký và họa Xuất bản
  • Biển Đông – Nhìn từ góc độ lịch sử và pháp lý Xuất bản
  • Con đường thiên lý: Hành trình kỳ lạ của các sứ bộ Anh Quốc tới Việt Nam thế kỷ 17 – 19 Xuất bản
  • Tầm nhìn từ Lịch sử Xuất bản
  • Pol Pot: Mổ xẻ một cơn ác mộng Xuất bản
  • Chuyến thăm Hà Nội Xuất bản
  • Một góc nhìn thời cuộc Xuất bản
  • Những biên bản cuối cùng tại Nhà Trắng: Phút sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa Xuất bản
  • Đối thoại với các phái đoàn Hoa Kỳ Xuất bản
  • Nước Nga trong thế giới đa cực Xuất bản
  • Thế giới đang thay đổi – Trật tự đa cực xuất hiện Xuất bản
  • Thắng địa Thăng Long – Địa linh đất Việt Xuất bản

Copyright © 2026 Thư viện Nguyễn Văn Hưởng.