David Biggs
Hoàng Anh (dịch)
Tiếp theo loạt bài nhìn lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam vào năm bản lề 1967 đăng tải trên báo Mỹ New York Times năm 2017, Tạp chí Phương Đông giới thiệu tới bạn đọc bài viết nói về cuộc chiến tranh hóa học tàn khốc của Mỹ tại Việt Nam của David Biggs, Giáo sư lịch sử tại Đại học California. Ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để độc giả tham khảo.
Ngay trước bình minh ngày 18/11/1967, những người lính thuộc Trung đội Hóa học 266 của Quân đội Hoa Kỳ đã thức giấc và tập hợp đội hình. Trung đội này được điều động đến Sư đoàn Bộ binh 1, và đóng quân tại căn cứ của Sư đoàn, nằm sâu trong những ngọn đồi đất sét đỏ ở phía bắc Sài Gòn.
Những người lính này sẽ có một ngày bận rộn như thường lệ. Nhiệm vụ của họ bao gồm lấy 15 thùng chất độc da cam (Agent Orange) để diệt lá cây ở xung quanh căn cứ, bắn súng cối vào một khu vực ngay bên ngoài căn cứ để đến tối sẽ thả hóa chất xuống, làm việc tại bãi bom để chuẩn bị 24 thùng hơi cay CS, chế tạo 48 ngòi nổ phốt pho trắng để kích nổ các thùng, chất các thùng lên một chiếc trực thăng vận tải CH-47, và cuối cùng, vào buổi chiều hôm đó, sẽ thả 24 thùng hơi cay từ cửa sau trực thăng xuống một mục tiêu. Đến năm 1967, đó chỉ là một ngày bình thường trong cuộc sống của Trung đội Hóa học 266, và trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam – một cuộc chiến mà xét trên nhiều khía cạnh có thể được coi là một cuộc chiến tranh hóa học.


Quân đội Mỹ rải chất diệt cỏ ở miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960. Ảnh: Lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ
Mọi chuyện không bắt đầu như vậy. Nhưng khi xung đột ngày càng trở nên ác liệt hơn, người ta nhận ra rõ ràng rằng vũ khí hóa học có thể đóng một vai trò trọng yếu. Sư đoàn Bộ binh số 1 của Mỹ nhận thấy điều đó khi những người “Việt Cộng” đào hầm ở phía bắc Sài Gòn với một mạng lưới địa đạo và đường hầm ngầm, là những không gian khó chịu và nguy hiểm, nơi vũ khí thông thường chỉ có tác dụng hạn chế. Mùa thu năm đó, Trung đội 266 và các trung đội hóa học khác bắt đầu huấn luyện việc sử dụng chất độc CS và các loại hóa chất khác để hỗ trợ các hoạt động chiến đấu.
Chất độc CS không phải là vũ khí duy nhất trong kho vũ khí của Trung đội 266, và việc phá hủy các địa đạo cũng không phải là nhiệm vụ duy nhất của họ. Họ xử lý mọi thứ liên quan đến hóa chất, từ phun thuốc diệt muỗi đến đốt rác. Trung đội này còn phun các chất diệt cỏ như chất độc da cam và chuẩn bị bom napalm. Hóa chất có mặt ở khắp mọi nơi và sự phổ biến của chúng trong nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ đã làm dấy lên lo ngại rằng Hoa Kỳ đang vượt quá giới hạn ở Việt Nam, vi phạm điều khoản cấm sử dụng trước vũ khí hóa học trong chiến tranh của Nghị định thư Geneva năm 1925.
Vũ khí hóa học không phải đột nhiên xuất hiện trong kho vũ khí của Mỹ tại Việt Nam. Năm 1918, để đáp trả các cuộc tấn công bằng khí độc của Đức trong Thế chiến I, quân đội Hoa Kỳ đã thành lập Cục Chiến tranh Hóa học (năm 1947 đổi tên thành Quân đoàn Hóa học – Chemical Corps) để phát triển các loại vũ khí sinh học và khí độc nhằm đáp trả các cuộc tấn công của kẻ thù. Họ cũng phát triển các biện pháp phòng thủ để bảo vệ binh lính khỏi các loại vũ khí hóa học, sinh học hoặc phóng xạ thông qua các chất khử nhiễm. Quân đội Mỹ cũng phát triển các ứng dụng phi quân sự của các hóa chất không gây chết người. Họ cung cấp hơi cay (xylyl bromide) cho lực lượng cảnh sát trong những năm 1920 và 1930 để giải tán những đám đông biểu tình giận dữ (các nhà khoa học quân sự Anh đã phát triển ra CS như một chất thay thế mạnh hơn vào thập niên 1950).
Trong Thế chiến II, quân đội Mỹ đóng vai trò then chốt trong việc tiên phong phát triển các loại hóa chất mới vừa có sức tàn phá khủng khiếp vừa có khả năng cứu sống con người. Sau khi thử nghiệm thành công xăng dạng gel trên sân bóng đá của Đại học Harvard, quân đội Mỹ đã phối hợp sản xuất bom napalm trong lựu đạn gây cháy, súng phun lửa và bom thả xuống các thành phố như Tokyo và Dresden. Các đơn vị hóa học đã rải một loại thuốc trừ sâu mới được phát hiện là DDT xuống khắp các thị trấn ở Ý và để trong túi ngủ của binh lính để diệt muỗi và các loại bọ ve mang mầm bệnh sốt rét và sốt phát ban. Năm 1943, quân đội Mỹ đã mở một phòng thí nghiệm vũ khí hóa học và sinh học tại Fort Detrick, Maryland, để tập trung nghiên cứu.
Chính tại đây, các nhà khoa học đã thử nghiệm các hỗn hợp thuốc diệt cỏ, bao gồm một tiền chất của Chất độc Da cam được tạo ra từ hỗn hợp thuốc diệt cỏ 2,4-D và 2,4,5-T. Từ thập niên 1930, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng những hóa chất đó mô phỏng hormone tăng trưởng của thực vật, nhưng họ đã không thành công trong việc khai thác sức mạnh kích thích tăng trưởng của nó. Sau đó, vào năm 1943, một nhà thực vật học đã thông báo cho Quân đội Hoa Kỳ rằng việc tăng liều lượng đã biến hóa chất này thành một chất diệt thực vật, và thuốc diệt cỏ hữu cơ tổng hợp đã ra đời. Các nhà khoa học tại Fort Detrick đã thử nghiệm các loại thuốc diệt cỏ này với ý định sử dụng trên thảm thực vật nhiệt đới bao phủ những hòn đảo do Nhật Bản chiếm đóng ở Thái Bình Dương, nhưng chiến tranh đã kết thúc trước khi họ có thể tăng tốc sản xuất.
Quân đoàn Hóa học tiếp tục thử nghiệm tất cả các loại hóa chất phục vụ mục đích quân sự trong những năm 1950, trong bối cảnh bùng nổ kinh tế hậu chiến, khi nhiều sản phẩm tương tự được thương mại hóa rộng rãi. Nông dân, người làm vườn và người chăm sóc đất ở Mỹ đã sử dụng các loại hóa chất mới có sẵn cho “cuộc chiến” chống lại sâu bệnh trong nhà họ.
Hai loại thuốc diệt cỏ trong Chất độc da cam, 2,4-D và 2,4,5-T, không phải là bí mật; thực ra, chúng là hai trong số những loại thuốc diệt cỏ phổ biến nhất, được bán rộng rãi trên thị trường Mỹ. Chính phủ Mỹ đã cho giải mật các nghiên cứu về thuốc trừ sâu gần như ngay lập tức vào năm 1945, mở đường cho việc phát triển thị trường thương mại. Vào tháng 5/1945, một nhà hóa học tại Công ty Sơn Hóa chất Hoa Kỳ (American Chemical Paint Company) ở gần Philadelphia đã nhận được một bằng sáng chế có tiêu đề đơn giản là “Thuốc diệt cỏ”, liệt kê hơn một chục công thức hóa học được ưa chuộng, bao gồm một hỗn hợp 2,4,5-T và 2,4-D trộn theo tỉ lệ 50-50 tương tự như Chất độc da cam. (Sau này ông ta tuyên bố rằng ông ta đã phát triển hỗn hợp này để diệt cây thường xuân độc, vì con trai ông ta bị dị ứng cấp tính). Năm 1948, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã cho đăng ký những loại thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu mới này là “thuốc bảo vệ thực vật” (economic poisions) và doanh số bán ra nhanh chóng tăng vọt. Do đặc điểm lai tạp này vào những năm 1960, việc sử dụng chúng làm vũ khí tấn công ở Việt Nam hầu như không gây ra phản ứng nào từ công chúng.
Mặc dù hậu quả của việc sử dụng các loại thuốc diệt cỏ như Chất độc da cam sau này đã rõ ràng, nhưng chúng luôn được coi là vũ khí hóa học không gây chết người. Tuy nhiên, ranh giới ngăn cách với “không gây chết người” của hơi cay CS không rõ ràng như vậy. Mặc dù mục tiêu chính thức của CS là để “thông” đường hầm, nhưng những người bị kẹt bên trong thường bị ngạt thở, và ngay cả những người sống sót cũng bị tổn thương đường hô hấp.
Và càng không hề có ranh giới nào khi nói đến napalm.
Những người lính thuộc Trung đội hóa học 266 sẽ buộc hơn một chục thùng xăng dạng gel trong một chiếc lưới thả ở bên dưới một chiếc trực thăng, sau đó trực thăng bay phía trên mục tiêu vài nghìn feet (khoảng 1.000 mét). Khi đã tiếp cận mục tiêu, phi hành đoàn sẽ thả các thùng xuống. Ngòi nổ hoặc hỏa lực từ các máy bay phản lực gần đó sẽ kích nổ các thùng ngay trên mặt đất, tạo ra một quả cầu lửa khổng lồ. Bất cứ thứ gì hoặc bất cứ ai trong phạm vi vài trăm mét đều bị thiêu rụi ngay lập tức trong khi cơn bão lửa hút hết oxy khỏi các đường hầm và boongke bên dưới. Các trung đội hóa học bắt đầu huấn luyện hình thức “hỗ trợ chiến đấu” mới này vào năm 1967, nhưng sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, mỗi ngày họ đã đốt hàng nghìn gallon xăng trong những đợt “thả bom lửa” như vậy. Họ đã vượt quá giới hạn.

Việc sử dụng hóa chất gia tăng nhanh chóng trong chiến đấu đã gây ra sự chỉ trích rộng rãi trên toàn thế giới, đầu tiên là từ các nước Cộng sản, sau đó ngày càng tăng từ các đồng minh của Mỹ và cuối cùng là từ chính các quan chức ở Mỹ. Sự chỉ trích đã tích tụ trong nhiều năm: Khi trực thăng của chế độ Việt Nam Cộng hòa bắt đầu sử dụng 2,4,5-T để phá hỏng mùa màng ở các khu vực do Cộng sản kiểm soát ở vùng cao nguyên Việt Nam vào năm 1963, Đài Phát thanh Giải phóng của Bắc Việt đã cáo buộc Hoa Kỳ vi phạm Nghị định thư Geneva năm 1925 và ví loại “thuốc xịt độc” này như các phòng hơi ngạt của Đức Quốc xã. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Mỹ và đồng minh của họ ở nước ngoài lại không mấy quan tâm đến sự phản đối này; các nhà lãnh đạo quân sự đã đáp lại bằng những chương trình phát thanh tuyên truyền trên đài phát thanh của Nam Việt Nam, giải thích rằng thuốc diệt cỏ vô hại với con người và được sử dụng thương mại trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, phản ứng quốc tế ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn với việc thả hơi cay CS. Năm 1966, một đại biểu từ Hungary tại Liên hợp quốc đã phàn nàn rằng việc sử dụng chiến thuật thuốc diệt cỏ và CS ở Việt Nam là một sự vi phạm trắng trợn Nghị định thư Geneva; ông cũng lưu ý rằng Hoa Kỳ vẫn chưa tham gia nghị định thư này. Với sự ra đời của chiến dịch thả bom lửa vào năm 1968, những cáo buộc về chiến tranh hóa học tiếp tục gia tăng và gây hoang mang cho Tổng thống Nixon mới đắc cử. Vào tháng 11/1969, Nixon đã thúc đẩy Thượng viện phê chuẩn cam kết của Hoa Kỳ đối với Nghị định thư Geneva, và từ bỏ việc sử dụng trước vũ khí hóa học gây chết người (trừ bom napalm vào các mục tiêu quân sự).
Trong khi Nixon cố gắng trấn an công chúng Mỹ rằng bom napalm không rơi xuống dân thường và chất diệt cỏ trong Chất độc Da cam là an toàn, thì một báo cáo đã xuất hiện vào năm 1968 cho rằng chất diệt cỏ 2,4,5-T cực kỳ độc hại đối với thai nhi động vật. (Nghiên cứu sau đó xác định rằng độc tính bắt nguồn từ chất dioxin gây nhiễm độc). Trong khi các trung đội hóa chất của Mỹ tiếp tục đẩy từ trực thăng xuống hàng nghìn thùng CS và napalm ở Việt Nam, Nixon đã nhanh chóng hành động để ngăn chặn điều mà ông ta lo ngại – sự phản đối ở trong nước và quốc tế về một loại thuốc diệt cỏ có khả năng gây độc. Nhà Trắng đã công bố lệnh cấm một phần chất 2,4,5-T vào ngày 15/4/1970, và Bộ Quốc phòng Mỹ cũng làm theo, cấm tất cả các nhiệm vụ liên quan đến Chất độc Da cam ở Việt Nam.

Hàng nghìn thùng thuốc diệt cỏ chất đống tại các cảng ở Hoa Kỳ, tại các căn cứ không quân ở Việt Nam và với số lượng nhỏ tại bãi chứa của các trung đội hóa chất tại các doanh trại Quân đội. Quân đội Mỹ đã chuyển kho dự trữ Chất độc Da cam ở Việt Nam, hơn 25.000 thùng phuy, đến Đảo Johnston ở Thái Bình Dương vào năm 1972, nhưng số phận của hơi cay CS và các hóa chất khác tại các trại vẫn chưa rõ ràng. Khi quân đội Mỹ sơ tán khỏi các trại và các căn cứ hỏa lực vào cuối cuộc chiến, họ lại tuân theo các hướng dẫn xử lý thời bấy giờ: đốt hoặc chôn các kho hóa chất chưa sử dụng hoặc bị hỏng, bao gồm CS, chất khử nhiễm, dung môi và thuốc trừ sâu.
Cho tới nay (2017), quân đội Mỹ chưa lần nào sử dụng lại hóa chất rộng rãi như ở Việt Nam. Các đơn vị quân đội Mỹ không còn đốt hoặc chôn chất thải hóa học nữa. Nhưng di sản vẫn còn đó. Chất độc Da cam đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người Việt Nam và người Mỹ. Phản ứng quốc tế đối với việc thả hơi cay CS và thả “bom lửa” đã dẫn đến những cuộc thảo luận gay gắt về bản chất của chiến tranh hóa học, tiếp tục với những tranh luận về lằn ranh đỏ, chất gây cháy và bom thùng cho đến ngày nay. Và các kho vũ khí hóa học vẫn được chôn trên khắp Việt Nam và tại các địa điểm không còn sử dụng của Mỹ ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Mỹ và Việt Nam ngày nay đã trở thành đối tác của nhau, nhưng rất ít người ở cả hai bên sẵn sàng giải quyết toàn bộ dấu vết hóa học của cuộc chiến.■

