Skip to content
  • ĐĂNG KÝ LÀM THẺ
  • ĐĂNG KÝ TẢI TÀI LIỆU SỐ
Thư viện Nguyễn Văn Hưởng

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng

CỔNG THÔNG TIN – NVH LIBRARY'S PORTAL

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu thư viện
    • Đội ngũ nhân sự
    • Liên hệ
    • Báo chí
    • Tuyển dụng
  • Dịch vụ thư viện
    • Câu hỏi thường gặp
    • Bảng giá dịch vụ
    • Đăng ký làm thẻ
    • Đăng ký tài khoản Thư viện số
  • Tài nguyên
    • Blog tư liệu
    • Xuất bản
    • Tin tức
  • Danh mục sách
  • Thư viện số
  • Trưng bày trực tuyến
  • Toggle search form
  • Dọc theo Con đường Cái Quan của Đông Dương năm 1931 Blog tư liệu
  • Nhà báo Mỹ điều trần trước Thượng viện về chuyến thăm miền Bắc Việt Nam cuối năm 1966 Blog tư liệu
  • “Con đường đúng nhất đi đến hòa bình”: Bài viết của Tổng thống Mỹ Richard Nixon tháng 6/1972 Blog tư liệu
  • Một vài dân tộc miền núi ở An Nam Blog tư liệu
  • “Người hiệp nữ” làm nội ứng cho Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến Blog tư liệu
  • Tâm trạng người Mỹ quanh vụ Tập kích Sơn Tây Blog tư liệu
  • Phóng viên báo Nhật Asahi phỏng vấn Bộ trưởng Trần Huy Liệu Blog tư liệu
  • Nixon và cuộc diệt chủng Campuchia Blog tư liệu
  • Thành Tây Đô: Công trình kiến trúc cổ bằng đá nổi tiếng Blog tư liệu
  • Sài Gòn năm xưa Blog tư liệu
  • Vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa – Trường Sa theo hướng tiếp cận toàn bộ, toàn diện của lịch sử Việt Nam Blog tư liệu
  • Chiến tranh Việt Nam trên các đĩa nhạc Mỹ Blog tư liệu
  • Hội thi bơi trải ở ngã ba Bạch Hạc Blog tư liệu
  • GIỚI THIỆU SÁCH: The great Hanoi rat hunt Blog tư liệu
  • Thăm quan Bảo tàng Maurice Long – Một công trình lộng lẫy của Hà Nội xưa Blog tư liệu

Tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam

Posted on 27/01/2026 By editor No Comments on Tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam

J.B.Alberti

Lê Hằng Nga (dịch)

Từ góc nhìn của nhiều học giả và nhân chứng phương Tây đầu thế kỷ XX, người An Nam hiện lên qua những lát cắt vừa quen thuộc lại vừa mới lạ. Tạp chí Phương Đông trích dịch và giới thiệu tới độc giả một số nội dung trong cuốn L’Indochine d’autrefois et aujourd’hui (Đông Dương xưa và nay) xuất bản năm 1934 của tác giả Jean Baptiste Alberti. Kỳ này là phần tổng hợp của tác giả về các tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam xưa. Các chi tiết, từ ngữ trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn để đảm bảo tính khách quan.

Tín ngưỡng thờ tổ tiên và những tín ngưỡng cộng đồng

Quan trọng nhất trong số các tín ngưỡng phải kể đến niềm tin mà người ta thực hành tới mức trở thành bộ quy tắc với tên gọi: “thờ cúng tổ tiên”.

Với người An Nam, chết không phải là hết. “Tác động của việc ấy giới hạn ở chỗ là làm thay đổi một vài đặc tính. Nó lấy đi những vật chất hữu hình, nhưng ảnh hưởng của nó cũng chỉ dừng lại ở đó. Bởi lẽ, cũng như trước kia, những nhu cầu sinh tồn vẫn tiếp tục bộc lộ: người đã khuất vẫn cần quan tâm đến nơi an nghỉ, ăn uống và những thú vui của mình. Họ sống một cuộc đời huyền bí, ẩn mình. Sự bảo vệ chở che hay những hành động ảnh hưởng xấu của họ vẫn tiếp tục tác động đến hậu duệ. Vào những giờ khắc long trọng của gia đình, họ trở lại ngồi trên bàn thờ tổ tiên ở nhà, ngắm nhìn cảnh con cháu sum họp, nếm qua thức ăn, hít hà khói hương mà con cháu hiếu thảo hết lòng dâng lên họ. Đời sống vật chất của họ vẫn tiếp diễn sau khi mất, chỉ bị tước mất phần hữu hình. Huống hồ, đời sống tinh thần và tâm hồn của họ còn hơn như vậy. Họ lưu giữ trí nhớ để hồi tưởng, trái tim để yêu ghét, cảm xúc để rung động hoặc trở nên rắn rỏi. Như vậy, mối liên hệ huyền bí và không thể phủ nhận giữa trần gian với cõi vĩnh hằng được thể hiện rõ ràng. Trong nền văn minh An Nam, cái chết hiện lên như một biến cố không mấy quan trọng, và người ta nên đón nhận nó như thế. Nếu không có lý do để vui mừng thì cũng chẳng có lý do gì để sợ hãi.

Đối với một linh hồn, hạnh phúc là khi họ được an nghỉ trong phần mộ của mình, nơi thể xác và phần sinh khí còn gắn với linh hồn không bị quấy rầy bởi bất kỳ tác động bi thảm nào. Hạnh phúc còn đến từ những lễ tế, những món ăn được dâng cúng trong những ngày thích hợp, và nỗi bất hạnh của một linh hồn chính là bị tước mất tất cả những điều đó.

Linh hồn sẽ hiền hòa và hạnh phúc nếu con cháu đảm bảo những điều kiện ấy, ngược lại, nếu con cháu tuềnh toàng, linh hồn sẽ trở nên ác nghiệt, khốn khổ, chịu án lang thang “bên bờ sông núi, nơi bóng tối ngự trị”.

Người ta thấy rõ những quan niệm này trong câu chuyện mà đức cha Pellerin kể lại về tang lễ của Vua Thiệu Trị:

“Khi Vua Thiệu Trị băng hà, người ta tìm các thầy bói để xem ngày và giờ thích hợp cho việc an táng của Hoàng gia. Và khi giờ lành đã điểm, cùng với thi hài của vị vua, người ta đặt vào quan tài vô số vật dụng mà ngài cần dùng ở thế giới bên kia, như vương miện, khăn đội đầu, y phục các loại, vàng bạc, và cả một bộ nội thất làm bằng chất liệu quý giá.

Khi thi hài Vua Thiệu Trị được đặt nằm yên trong quan tài, người ta rước ngài vào một nhà quàn, được dựng riêng cho việc này. Tại đó, mỗi ngày đều cử hành lễ hiến tế: những trâu, lợn, gà làm đồ lễ và các món ăn bày biện trên bàn đặt gần quan tài. Tân vương – con trai của vị vua vừa băng hà – mặc y phục tang chế, đến quỳ lạy phụ hoàng và dâng lễ vật, đồ ăn. Mỗi ngày, người ta thắp nến sáng, đốt hương, chuẩn bị đầy đủ trầu, cau, thuốc lá và mọi vật dụng khác mà Vua Thiệu Trị từng quen dùng khi còn sống. Linh cữu nhà vua để tại nhà quàn như vậy cho đến ngày 21/5 âm lịch (21/6/1848), ngày mà các thầy bói chỉ định là thời khắc thuận lợi để bắt đầu tang lễ”.

Những quy tắc lễ nghi chỉ nhằm một mục đích duy nhất: đó là sau khi gột sạch mọi ô uế khi thân xác biến mất, linh hồn được chăm sóc giữa gia đình cho đến ngày an ngự vĩnh viễn trong bài vị thiêng – sau sẽ đặt cùng với các bài vị tổ tiên khác. Người ta đặt lên ngực người hấp hối một mảnh lụa trắng mà họ tin rằng linh hồn sẽ nhập vào đó. Sau cùng, mảnh lụa được kết thành hình con búp bê nhỏ – đó chính là hồn bạch, tức linh hồn bằng lụa. Khi mai táng, linh hồn người quá cố chuyển sang bài vị: đó là tấm gỗ nhỏ, mặt trước khắc tên người đã mất, phía trước che bằng một tấm gỗ khác quét vôi trắng, phần chân đế giúp hai tấm gỗ đứng thẳng. Hồn bạch sau đó được đưa trở về nhà.

Một đoàn rước linh cữu trong lễ tang của vua Khải Định năm 1925. Nguồn: Lưu trữ của Cao ủy Pháp tại Đông Dương

Thời gian để tang kéo dài 27 tháng, bởi cho đến khi đó, người mất vẫn chưa hoàn toàn rời khỏi cuộc sống trên trần gian, vì vậy theo luật họ vẫn được coi là chủ sở hữu hợp pháp tài sản của mình. Sau thời gian này, bài vị được rước vào để cùng với các bài vị khác của tổ tiên, còn hồn bạch thì chôn ở một nơi riêng. Về nguyên tắc, người ta không thờ bài vị quá 4 đời, khi hết thời gian, người ta đem bài vị chôn cạnh phần mộ của người đã khuất, và bài vị trở thành nơi linh hồn ấy cư ngụ.

Với quan niệm về việc qua đời như vậy, người An Nam thường lo liệu cho hạnh phúc của mình ở thế giới bên kia từ rất lâu trước khi sự việc xảy đến: họ chuẩn bị mồ mả, lo liệu việc chăm sóc mộ phần, mong có con trai nối dõi để thực hiện các lễ tế, giữ gìn ký ức về họ và chủ trì các lễ trọng thể của gia đình sau khi họ khuất núi.

Việc thờ cúng phải do người đứng đầu gia đình đảm nhiệm, người này được coi như vị giáo chủ của tôn giáo tổ tiên. Khi ông qua đời, vai trò truyền lại cho con trai trưởng, và nếu người con này mất trước cha thì con trai thứ sẽ kế nhiệm. Nếu sau vài năm kết hôn, người chủ gia đình lo sợ mình qua đời khi chưa có con nối dõi, ông ta sẽ cưới vợ lẽ, và nếu cần thì có thể cưới thêm nhiều vợ lẽ nữa. Trong trường hợp vẫn không có con trai, ông sẽ nhận con nuôi. Vì nếu không làm như vậy, ông biết rõ mình đang chờ đợi số phận bi thảm. “Đó là nỗi buồn của kẻ bị làm lễ tang qua loa, là nỗi lo không được hưởng những nghi thức tiễn đưa, là sự sợ hãi khi thấy mộ phần của mình bị bỏ hoang dưới bầu trời vô cảm và trên mặt đất lạnh lùng, là kinh hoàng phút chót khi không thể hưởng việc qua đời thanh thản trong cõi vĩnh hằng. Đó là hình phạt khủng khiếp nhất có thể giáng xuống một người. Thêm vào nỗi đau riêng ấy còn có nỗi sợ hãi phải gánh trách nhiệm nghiêm trọng trước tổ tiên, chịu những lời quở trách vì lỗi lầm của mình mà dòng họ tuyệt tự, không còn ai để tiếp tục việc thờ cúng”.

Bằng nền giáo dục truyền thống và tinh thần hiếu đạo được thấm nhuần từ nhỏ, người giàu cũng như người nghèo đều tin rằng con cháu họ sẽ thực hiện các nghi lễ tang tế đủ đầy mà họ xứng đáng được hưởng.

Vái lạy trước bàn thờ tổ tiên ở Nam Kỳ. Tranh vẽ bởi học sinh trường Mỹ thuật Gia Định những năm 1930. Nguồn: Sách “Monographie dessinée de l’Indochine Cochinchine” xuất bản năm 1935

Tuy nhiên, luật pháp cho phép những người có của cải dành toàn bộ hay một phần tài sản của mình để dùng cho việc thờ cúng sau khi đã qua đời. Những tài sản dành cho mục đích này gọi là hương hỏa, và là bất khả xâm phạm; mọi quy định về việc chuyển giao tài sản này cho người khác với cùng mục đích đều có giá trị vĩnh viễn. Phần tài sản tượng trung cho ý nguyện của người lập di chúc truyền từ cha sang con trai, theo thứ tự trưởng nam và được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Tập tục cũng cho phép người chịu trách nhiệm thờ cúng được sử dụng phần dư của tài sản đó để mưu sinh một cách danh dự. Khi người cha giàu có qua đời mà không để lại di chúc, những người thừa kế dành một phần tài sản cho việc thờ cúng tổ tiên.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là tôn giáo của gia đình, là tôn giáo chung cho cả người giàu và người nghèo. Như ta đã thấy, trong tín ngưỡng này không có khái niệm về thần linh, cũng không nhắc tới thưởng phạt ứng với việc thiện hay ác khi còn sống. Bên cạnh tín ngưỡng thờ tổ tiên, một loạt các niềm tin và tôn giáo khác cũng tồn tại, pha trộn thêm một vài yếu tố mê tín. Có những người An Nam chấp nhận tất cả, và khi nhìn lên bàn thờ tổ tiên của họ, ta có thể cùng lúc tìm thấy hình tượng Phật Thích Ca, Lão Tử, cả các tấm hoành phi trên khắc những lời dạy của Khổng Tử.

Người An Nam không đi sâu nghiên cứu các tôn giáo. Họ chỉ đơn giản chọn lấy ở mỗi tôn giáo những gì phù hợp với tâm tính của mình, hài hòa được với tín ngưỡng thờ tổ tiên. Ngoại lệ duy nhất là những người đã theo đạo Công giáo.

Các vị thần linh

Niềm tin rằng linh hồn con người tiếp tục tồn tại và hiện diện khắp nơi, rằng có những linh hồn mang phước lành và có linh hồn tàn ác, tất yếu đã đưa người An Nam tới quan niệm rằng xung quanh mình tồn tại vô số các thần linh. Mặt khác, vì người dân ấn tượng sâu sắc trước sức mạnh và đặc tính của các lực tác động tự nhiên hoặc của một vài loài vật, họ không chỉ tìm thấy linh hồn của người đã khuất mà còn đi đến chỗ tìm thấy linh hồn trong vạn vật xung quanh.

“Tôn giáo đích thực của người An Nam – Cố cả Cadière viết – chính là tín ngưỡng thờ các thần linh”.

Tín ngưỡng này không xác định được lịch sử, vì nó khởi nguồn ngay từ thuở hồng hoang… Các linh hồn tồn tại ở khắp nơi. Họ bay lượn trong không khí, di chuyển nhanh và đến cùng trong làn gió. Họ tiến dọc theo các cung đường hoặc đắm mình vào những dòng sông. Các linh hồn ẩn mình nơi đáy nước, trong những vực thẳm đầy hiểm nguy hoặc ở những ao hồ yên ả nhất. Họ đắm đuối trong các cung đèo của dãy núi Trường Sơn và bóng tối lặng người trong rừng rậm. Những đỉnh núi cao, các tảng đá chắn ngang sông, thậm chí chỉ một hòn đá nhỏ cũng có thể là nơi trú ngụ. Những cây cối rậm rạp là nơi các linh hồn ẩn náu, và một số loài vật thì sở hữu hoặc có thể đạt được những năng lực linh thiêng của một linh hồn.

Có vẻ như, từ bất kỳ vật thể nào mà công dụng, sức mạnh phá hủy, hình dáng hay tuổi đời nổi bật, người ta cũng khuynh hướng tách thứ ấy thành một quyền năng và biến thành một vị thần. Tín ngưỡng thờ Hổ là một ví dụ điển hình. “Ngài”, “Ông”, “vị tướng” – những danh xưng mà họ dùng vì e sợ đến mức tránh gọi thẳng tên. Hổ không còn là loài thú dữ mà đã trở thành sức mạnh siêu nhiên. Biểu tượng con hổ được đặt ở các hốc nhỏ sát mặt đất, lối vào các đền hoặc trong nhiều ngôi nhà. Người ta tin rằng linh hồn của hổ nếu được cung kính sẽ bắt giữ các tà linh quấy nhiễu trong người thờ thần rồi rút đi, mang theo bệnh tật và vận rủi của người ấy.

Một bàn thờ ông Hổ ở chùa Hàm Long, Bắc Ninh khoảng năm 1917. Bộ sưu tập ảnh màu của Léon Busy

“Toàn bộ mặt đất với núi non, đồng bằng và các mạch nước ngầm, tràn đầy những luồng khí lực vô hình, nguồn khí này thấm vào vạn vật, tác động lẫn nhau và ban cho những vật ấy quyền năng huyền bí. Chẳng hạn, hài cốt của tổ tiên đặt ở nơi các luồng khí thuận lợi hội tụ và thấm dần sức mạnh ấy, từ đó ban phúc và bảo đảm sự thịnh vượng dài lâu cho dòng tộc.

Bầu trời và chu kỳ của các vì sao cũng không kém phần quan trọng. Có những giờ khắc cát tường khi các lực siêu nhiên ngưng đọng giữa không gian, có thể nhập vào cả những sinh linh bé nhỏ nhất nếu họ qua đời đúng thời điểm ấy. Chính bởi thế mà một cô đào nương qua đời thảm thương trong một nhà hát ở Hà Nội đã trở thành một vị thần, được lập đền thờ trên phố Jules Ferry (nay là phố Hàng Trống – ND) – một trong những nơi đông đúc người đến thờ cúng. Người ta còn thấy, trong một vài vị Thành hoàng làng, một số người từng là kẻ trộm, hay một đứa trẻ ham ăn, chết một cách tầm thường – người bị đánh chết, người bị nghẹn – nhưng lại đúng vào khoảnh khắc khí thiêng từ trời sà xuống và họ trở thành thần linh”. (Paul Mus)  

Cổng vào đền Trấn Vũ thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ tại Hà Nội khoảng năm 1910 – 1920. Nguồn: Bộ sưu tập ảnh màu của Léon Busy.

Thành hoàng làng

Trong số tất cả các vị thần linh, những vị được tôn kính nhất là các thần bảo hộ của làng. Mỗi làng đều có một vị thần riêng. Ngôi đền thờ thần – gọi là đình – đồng thời cũng là nơi dùng cho hội họp chung, nơi hội đồng kỳ mục nhóm họp để quản lý công việc làng. Lễ tế thành hoàng hàng năm là sự kiện trọng đại đối với tất cả cộng đồng. Các lễ tế nông nghiệp đều lấy nghi thức cúng tế vị thần bảo hộ làm trọng tâm.

Không có quy tắc cố định nào để chọn vị Thành hoàng làng. Phần lớn các làng thờ linh hồn của một anh hùng hay một vị quan thanh liêm, nhưng cũng có những làng tôn một tên trộm bị bắt và xử phạt, một người trụy lạc, hay thậm chí là một đứa trẻ qua đời vì uống nước lên làm thần.

Ở làng Lộng Khê (Thái Bình), Thành hoàng trước là một tên trộm. Vào dịp tế lễ, ban đêm, trai làng cầm đuốc sáng đi quanh đình, rồi tỏa ra khắp các ngõ hẻm như đang truy lùng kẻ trộm. Sau đó, cai đình đưa bức tượng thần ra ngoài qua một lỗ nhỏ sau điện thờ, nơi Đại Kỳ mục đang chờ. Ngay khi tượng thần xuất hiện, ông ta túm lấy cổ tượng, đấm ba cái và hét lên: “Ta bắt được rồi! Ta bắt được rồi!”. Như vậy để tái hiện lại cảnh bắt trộm thuở xưa.

Các Thành hoàng được triều đình ban sắc phong. Đôi khi, thần làng có thể là người đang còn sống.

Theo ông H. Maspero, dường như triều nhà Lê đã tiến hành một cuộc cải tổ toàn diện và chuẩn hóa hệ thống truyền thuyết về các vị Thành hoàng làng vào năm 1572. Khi đó, bộ Lễ đã soạn tiểu sử chính thức cho những vị thần chưa có thần tích rõ ràng. Các đoạn tiểu sử này thường chèn thêm yếu tố kỳ ảo, nhằm thay thế hoặc để phù hợp với các truyền thuyết truyền miệng ở địa phương. Tuy nhiên sự hòa trộn này nhiều khi thiếu tính phê phán nên nhiều truyền thống cũ dù phi lý hay sai niên đại vẫn chưa được gỡ bỏ. Ngoài ra, chỉ được soạn cho mỗi vị thần một bản thần tích duy nhất, rồi phát cho tất cả các làng cùng thờ vị thần ấy, nhờ đó, những dị bản địa phương gần như biến mất hoàn toàn.

Nho giáo và các lễ tế chính thức: Nam Giao, tế thần, tế nông nghiệp, thờ Khổng Tử

Khổng Tử đã xây dựng một hệ thống tư tưởng ít mang tính tôn giáo mà thiên về triết học, luân lý, một mô hình trị quốc. Bậc hiền triết này hiểu sâu sắc tâm hồn và bản tính con người Á Đông, tạo thành những tư tưởng cùng phương pháp thực hành có khả năng được đồng thuận rộng rãi trong các xã hội mà ông hướng đến. Điều đó có nghĩa rằng, giáo huấn của Khổng Tử cũng gặp được mảnh đất thuận lợi để lan tỏa và thấm sâu vào tâm hồn con người. Những nguyên lý mà ông nêu ra đã trở thành nền tảng cơ bản của nền văn minh tại xứ Viễn Đông. Sau khi củng cố ở Trung Hoa, Nho giáo du nhập vào An Nam, rồi dần bao trùm và chi phối toàn bộ đời sống xã hội. Mục tiêu của Khổng Tử cũng như sứ mệnh của những người thầy dạy học là bồi dưỡng con người hoàn thiện trong các mối quan hệ gia đình và xã hội. Trong gia đình thì hiếu kính cha mẹ, kính trọng người lớn tuổi, vợ chồng hòa thuận. Trong xã hội cần tôn kính người già, giữ trọn các lễ nghĩa giữa người với người. Trong triều đình là mối quan hệ hai chiều giữa vua tôi, trách nhiệm của quan lại, và nghĩa vụ của giới nho sĩ. Không phải vô thần cũng không phải duy vật, triết học Trung Hoa trong các trường học gác lại những vấn đề siêu hình về linh hồn hay Thượng đế vì cho rằng chúng vượt quá khả năng hiểu biết của con người. Triết học ấy chú trọng xây dựng một học thuyết vững chắc về bổn phận, xác định những nguyên lý bất biến của chân – thiện – ích. Mục đích cao cả của việc học là làm sáng tỏ lý tính và hướng con người trở thành quân tử.

Một bàn thờ trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội khoảng năm 1916. Nguồn: Bộ sưu tập ảnh màu của Léon Busy

Triết học của Khổng Tử là một hệ thống độc lập với mọi giáo lý khác, nó được xây dựng dựa trên phẩm giá của con người.

Trong hệ thống ấy, một nguyên tắc phổ quát duy nhất chi phối mọi hiện tượng tự nhiên – từ việc vận hành các mùa, các vì sao tới các hiện tượng xã hội, quan hệ dân sự, gia đình và hôn nhân, tất cả đều thông qua Hoàng đế, người nhận mệnh từ Trời để truyền trật tự xuống nhân gian.

Trời và đất là hai nguồn sinh ra vạn vật: trời ban sức sống và tinh thần, đất trao hình thể vật chất. Như vậy, trời là nguồn tạo quy luật xuyên thấu mọi vật chất. Còn nhân loại, với những ham muốn và nhu cầu của mình, là thực thể định hình luồng ảnh hưởng thiêng liêng ấy, một luồng ảnh hưởng mà Hoàng đế và hệ thống quan lại của ông truyền xuống.

Khi nhà vua có đức hạnh, không có gì trong ông cản trở Thiên khí lưu thông, khi ấy, ảnh hưởng thiêng liêng ấy lan tỏa khắp quốc gia, xuống cả những tầng lớp thấp nhất trong dân chúng, giúp họ tuân phục và trung thực tự nhiên nhất, không cần ép buộc. Chỉ có Hoàng đế và các quan lại của ông mới có thể lĩnh hội quy luật Thiên đạo. “Mọi nghi lễ mà dân chúng trực tiếp cử hành, không phải vì Hoàng đế ban ra mà do họ tự thực hiện đều là trái với sự hài hòa của vũ trụ. Bởi dân chúng không có phẩm chất để trực tiếp nhận thiên khí. Và nếu họ cố gắng kêu gọi thì chỉ có những thế lực rải rác khắp vũ trụ đáp lại, mà khi nhập vào con người thì sẽ sinh ra tội lỗi và phản loạn”.

Để mọi sự trong xã hội diễn ra hài hòa, Khổng Tử đặt nền tảng là lòng hiếu kính, mà theo ông, đó chính là việc không đi ngược lại những nguyên tắc của lý tính. Nhằm giúp đạo lý ấy dễ thực hành, Khổng Tử đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản, để bất kể tuổi tác, địa vị hay hoàn cảnh, mỗi người đều có thể tìm thấy trong lời dạy những quy tắc cần tuân theo, không xa rời con đường lý tính. Hơn thế nữa, để họ không lạc lối trong việc thực hành nghĩa vụ của mình, Khổng Tử đã quy định tường tận nghi lễ.

Khi nghiên cứu các thể chế của người An Nam, ta sẽ thấy rõ những đạo lý chính yếu của Nho giáo được áp dụng. Nhưng trước hết, cần nhắc tới những nghi lễ truyền thống gắn với giáo lý của của Khổng Tử

Nghi lễ Nam Giao

Hoàng đế là người duy nhất đại diện trực tiếp cho Trời, ngài là người duy nhất có quyền thay mặt cả quốc gia dâng lễ tế lên Thượng đế, vị Hoàng đế tối cao của vạn vật và linh hồn.

Ba năm một lần, ở vùng ngoại ô phía Nam kinh thành, Hoàng đế đích thân chủ trì lễ tế Trời – Đất. Buổi tế làm trên một đàn tế hình tròn – tượng trưng cho Trời, nằm ở đỉnh của những tầng đàn hình kim tự tháp, tầng cuối là đàn hình vuông – tượng trưng cho đất. Trong lễ tế, các tổ tiên của triều đại cũng được cầu thỉnh cùng chứng giám, vì họ là bậc sinh thành của hoàng quyền.

Trước ngày tế lễ, Hoàng đế phải tu tập để giữ mình thanh khiết – thời gian đó gọi là tam nhật trai giới, ngài ở tại Trai cung gần nơi thánh đàn. Sáng ngày tế lễ, một đoàn rước trọng thể đưa Hoàng đế đến tế đàn. Nghi thức đầu tiên là triệu thần – mời các thần linh giáng hạ, tiếng chiêng trống vang dội mở đường cho linh khí. Rồi người ta thắp hương và thiêu một con trâu non để hiến tế. Khói hương và mùi thơm của thịt bốc lên dâng tới các vị thần của không trung, lông và một phần máu của con trâu được chôn xuống đất để triệu các vị thần của cõi âm.

Toàn cảnh đàn tế Nam Giao tại Huế năm 1933. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Trước mỗi phần nghi lễ, quan nghi xướng hô to lời tuyên cáo, hướng dẫn Hoàng đế các động tác và lời khấn cần thực hiện. Hoàng đế bước lên từng bậc của tế đàn, dâng ngọc, lụa, rồi dâng thịt trâu, thịt dê, thịt heo. Tiếp đó là ba lần rưới rượu tế. Sau cùng, một bản tấu chương được đọc dâng lên Trời, Đất và các tiên đế hoàng triều. Các bàn thờ phụ thì dùng để tế tất cả các thần linh trong vũ trụ.

Sau nghi lễ, Hoàng đế nhận phần thịt và rượu lộc – một biểu trưng cho phúc lộc mà trời đất ban cho quân vương, mang về dùng trong cung. Cuối cùng, người ta hóa bản văn tế cùng một phần lễ vật như lời cầu nguyện được gửi lên cõi trời.

Thờ thành hoàng

Người An Nam đã xây dựng một hệ thống phân cấp các vị thần linh, tựa như mô hình quan lại của người Trung Hoa. Hệ thống này như một bộ máy quan lại thiêng liêng dưới quyền của Hoàng đế. Mỗi vị thần được ban cho một phẩm hàm, ghi bằng chữ vàng trong đền thờ. Mỗi năm, Hoàng đế gia hạn hoặc thay đổi sắc phong cho các vị thần dựa theo tấu trình của quan lại địa phương. Ngài có thể thăng chức hoặc giáng chức cho một vị thần.

Quang cảnh của một buổi tế lễ thành hoàng làng tại Hà Đông năm 1929. Nguồn: Cao ủy Pháp ở Đông Dương

Vào thế kỷ XVII, vùng Thuận Hóa gặp hạn hán kéo dài, người ta kể rằng vua Thái Tông đã ban chiếu cho các quan rằng: “Hãy chuẩn bị ba chum nước lớn và nói với các vị thần rằng nếu trong ba ngày tiếp theo mà trời không mưa, trẫm sẽ đem bài vị của họ mà nấu sôi, rồi ném tất cả xuống sông, để người dân của trẫm khỏi phải lãng phí tiền của mà thờ phụng vô ích”.

Các nghi lễ nông nghiệp

Hoàng đế cũng là người chủ tế tối cao của một loạt nghi lễ nông nghiệp tổ chức theo mùa vụ. Những lễ chính xưa nay gồm có: Lễ Nghênh Xuân – đón mùa xuân mới, lễ Tịch Điền – cày ruộng đầu năm, báo hiệu bắt đầu mùa vụ, lễ Xã Tắc – cúng tế thần Đất và thần Lúa.

Triều đình còn quy định các nghi lễ dân gian, gắn bó mật thiết hơn với nhịp canh tác nông nghiệp: tế Xuân (tháng Hai) và tế Thu (tháng Tám), lễ xuống đồng khi bắt đầu cấy lúa, lễ lên đồng khi kết thúc mùa vụ, lễ nếm thử lúa mới, v.v. Một trong những lễ hội quan trọng nhất là Tết Trung Thu – rằm tháng Tám âm lịch, đêm trăng tròn. Đây là lễ hội cho trẻ em, có những đoàn rước đèn rực rỡ, náo nhiệt khắp phố phường đến tận khuya. Ở các làng quê còn có màn hát đối giữa các cặp nam nữ, đôi khi kết thúc bằng những mối nhân duyên tự nhiên, vốn là tàn dư của một nghi thức xa xưa, mang ý nghĩa cầu cho mùa màng sinh sôi.

Thờ Khổng Tử

Bên cạnh những hình thức thờ cúng kể trên, còn có việc thờ phụng Khổng Tử và các môn đệ lớn của ông. Hoàng đế, các Tổng trấn hoặc quan Đốc học cấp tỉnh là chủ tế trong những buổi lễ tại Văn Miếu ở kinh thành hay các phủ, huyện. Ngay cả những ngôi làng nhỏ nhất cũng có bàn thờ Văn Chỉ hoặc Tư Chỉ, thường dựng ngoài trời. Người ta dâng lên bậc thánh hiền những hoa trái đầu mùa, rượu nếp, để tạ ơn vì ngài đã xua tan bóng tối của ngu dốt và man rợ, khai sáng cho con người bằng tri thức và đạo lý.■

Blog tư liệu Tags:Đông Dương, Hà Nội, Pháp, thuộc địa, văn hóa

Post navigation

Previous Post: “Con đường đúng nhất đi đến hòa bình”: Bài viết của Tổng thống Mỹ Richard Nixon tháng 6/1972
Next Post: Một vài dân tộc miền núi ở An Nam

More Related Articles

Đề cử Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội 2024: Một Hà Nội… “cảm tình thân quen kỳ lạ” Báo chí
Hội thi bơi trải ở ngã ba Bạch Hạc Blog tư liệu
Nhìn lại không khí sục sôi những ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 qua báo chí xưa Blog tư liệu
Hoàng đế và triều đình An Nam Blog tư liệu
“Giống như đi trên tên lửa”: Phi công Mỹ nhớ lại nỗi kinh hoàng của cuộc ném bom Giáng sinh năm 1972 ở Việt Nam Blog tư liệu
Con tem Điện Biên Phủ của Việt Nam và Pháp Blog tư liệu

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

  • Tạp chí Phương Đông Official Channel
  • Thư viện Nguyễn Văn Hưởng Fanpage
Tạp chí Phương Đông số tháng 10-2024

Chuyên đề

  • Việt Nam trên báo Mỹ
  • Tạp chí Phương Đông

Kết nối với chúng tôi

Nguồn tài liệu

  • The Vietnam Center and Sam Johnson Vietnam Archive
  • MSU Vietnam Group Archive
  • The Wilson Center Digital Archive
  • The National Security Archive
  • CIA Historical Collections
  • Office of the Historian – U.S. Department of State
  • National Archives
  • Internet Archive
  • United Nations Archives
  • Journal of Vietnamese Studies
  • Harvard-Yenching Library
  • Yale University Digital Collections: Maurice Durand Han Nom
  • Digital Libraries – Gallica – BnF
  • Les Archives nationales d’outre-mer
  • Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient
  • Sách Đông Dương – Thư viện QGVN
  • Thư tịch Hán Nôm – Thư viện QGVN
  • Báo chí số hóa – Thư viện QGVN

Bài mới

  • Phùng Khắc Khoan: Ngoài 70 tuổi còn đi sứ Tàu ba lần
  • Một vài dân tộc miền núi ở An Nam
  • Tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam
  • Việt Nam trên báo Mỹ: Cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam
  • Tài liệu giải mật: Dự đoán của CIA về các ý định của miền Bắc Việt Nam sau khi ký Hiệp định Paris

Lưu trữ

TRƯNG BÀY KỶ VẬT CHIẾN SĨ

Tags

1945 1954 1975 Bảo Đại Báo chí Campuchia Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh Đông Dương chế độ thực dân chủ nghĩa thực dân Chủ tịch Hồ Chí Minh CIA Cách mạng Tháng Tám giới thiệu sách Hoa Kỳ Huế Hồ Chí Minh Hà Nội Mỹ nghệ thuật ngoại giao Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu phong trào phản chiến phong tục phản chiến Pháp POW/MIA Quan hệ Việt - Mỹ Sài Gòn thuộc địa Thập niên 1960 Thực dân Pháp triều Nguyễn Tết tình báo Vietnam War Việt Minh Việt Nam Cộng hòa Việt Nam thời hậu chiến Việt Nam trên báo Mỹ văn hóa Đảo chính Đông Dương Đông Nam Á

Đăng ký

  • ĐĂNG KÝ LÀM THẺ
  • ĐĂNG KÝ TẢI TÀI LIỆU SỐ
  • Nước mắt mùa thu Xuất bản
  • Pol Pot: Mổ xẻ một cơn ác mộng Xuất bản
  • Giải phóng Xuất bản
  • Chuyến thăm Hà Nội Xuất bản
  • Biển Đông – Nhìn từ góc độ lịch sử và pháp lý Xuất bản
  • Cuộc chiến của tôi với CIA: Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk Xuất bản
  • Chợ Lớn 1955: Ký và họa Xuất bản
  • Một góc nhìn thời cuộc Xuất bản
  • Tầm nhìn từ Lịch sử Xuất bản
  • Thắng địa Thăng Long – Địa linh đất Việt Xuất bản
  • Nước Nga trong thế giới đa cực Xuất bản
  • Con đường thiên lý: Hành trình kỳ lạ của các sứ bộ Anh Quốc tới Việt Nam thế kỷ 17 – 19 Xuất bản
  • Đối thoại với các phái đoàn Hoa Kỳ Xuất bản
  • Những biên bản cuối cùng tại Nhà Trắng: Phút sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa Xuất bản
  • Thế giới đang thay đổi – Trật tự đa cực xuất hiện Xuất bản

Copyright © 2026 Thư viện Nguyễn Văn Hưởng.