Robert Aldrich[1]
Phạm Khánh Linh dịch
Bài viết này tìm hiểu việc lưu đày ba vị hoàng đế Việt Nam từ năm 1885 đến năm 1916, đặc biệt tập trung vào vua Duy Tân – người sau nhiều thập kỷ sống lưu vong trên đảo Réunion đã dự định trở về quê hương và giành lại ngai vàng. Bài viết lập luận rằng việc phế truất và lưu đày quốc vương bản xứ là một vũ khí lợi hại trong binh xưởng của thực dân, đặc biệt là ở những xứ bảo hộ mà kẻ chiếm đóng muốn loại bỏ các vị vua phiền toái, đồng thời tổ chức lại vị thế và cấu trúc của các triều đại truyền thống để đạt được mục đích của mình.
*
Các vị vua Pháp thế kỷ XIX không xa lạ gì với biện pháp lưu đày.[2] Những nhà cai trị Pháp cũng thường bắt các đối tượng bất đồng phải đi lưu vong, từ di dân (émigré) sau năm 1789[3] đến những người phản đối chế độ mới trong những năm 1800, bao gồm hàng nghìn người bị trục xuất đến Algeria sau năm 1848 và nhiều thành viên Công xã Paris bị đưa đến New Caledonia vào năm 1871. Pháp cũng áp dụng biện pháp an trí đối với người dân bản xứ và các nhà lãnh đạo kháng chiến tại những thuộc địa mà họ đã xâm chiếm (hoặc tái xâm chiếm). Năm 1802, họ trục xuất Toussaint Louverture[4] từ Haiti đến Pháp, nơi ông qua đời chưa đầy một năm sau đó. Năm 1847, họ trục xuất Abdelkader[5] bại trận khỏi Algeria, giam giữ ông suốt 5 năm trời trong các lâu đài Pháp trước khi cho phép ông sống lưu vong ở Đế quốc Ottoman. Vào cuối thế kỷ 19, Pháp đuổi Béhanzin, quốc vương xứ Dahomey,[6] đến Martinique (và sau đó là Algeria), trục xuất một vị vua khác ở miền Tây châu Phi là Samory Touré[7] đến Gabon ở châu Phi xích đạo, và lưu đày nữ hoàng cuối cùng của Madagascar[8] đến đảo Réunion và sau đó là đến Algeria.[9]

Bài viết này tìm hiểu việc lưu đày ba vị hoàng đế Việt Nam từ năm 1885 đến năm 1916, đặc biệt tập trung vào vua Duy Tân – người sau nhiều thập kỷ sống lưu vong trên đảo Réunion đã dự định trở về quê hương và giành lại ngai vàng.[10] Bài viết lập luận rằng việc phế truất và lưu đày quốc vương bản xứ là một vũ khí lợi hại trong binh xưởng của thực dân, đặc biệt là ở những xứ bảo hộ mà kẻ chiếm đóng muốn loại bỏ các vị vua phiền toái, đồng thời tổ chức lại vị thế và cấu trúc của các triều đại truyền thống để đạt được mục đích của mình. Tuy nhiên, chiến lược này đã làm suy yếu chính những thể chế mà thực dân hy vọng sẽ hợp thức hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đô hộ. Việc hạ thấp vị thế của các vương triều cũng khiến thực dân mất uy tín trong mắt những người theo chủ nghĩa dân tộc. Hoàng gia Việt Nam đã biến mất cùng quá trình phi thực dân hóa.
Bài viết này không đưa ra thông tin chi tiết về vai trò của chế độ quân chủ dưới chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, một chủ đề đã được Nguyễn Thế Anh và nhiều học giả khác nghiên cứu chuyên sâu.[11] Nó cũng không ghi lại quá trình phát triển của chủ nghĩa chống thực dân ở Việt Nam mà công trình nghiên cứu của David Marr là tài liệu kinh điển.[12] Thay vào đó, bài viết này sẽ tìm hiểu sự lưu đày như một chiến thuật của thực dân và xem xét những gì mà cuộc sống lưu vong của ba vị hoàng đế Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân cho thấy về nền cai trị của Pháp ở Đông Dương.[13] Đây là một phần thuộc dự án nghiên cứu lớn hơn về bối cảnh mà thực dân Pháp và Anh trục xuất những nhà cai trị bản xứ, cuộc sống lưu vong của các quốc vương bị phế truất cùng đoàn tùy tùng của họ, và vị trí của họ trong những tường thuật lịch sử thời hậu thuộc địa.
Chế độ bảo hộ, nhà vua và thực dân
Thực dân xâm lược phải quyết định xem nên làm gì với người cai trị đất nước chúng đã tiếp quản: tham gia vào các cuộc đàm phán và cố gắng có được sự hợp tác từ người này, hoặc chiến đấu và loại bỏ ông ta bằng cách đánh bại, bỏ tù, lưu đày hoặc hành hình. Mục đích chính là khiến nhà lãnh đạo bản xứ phải quy phục, hoặc nếu không làm được điều đó thì phải loại bỏ ông ta. Đôi khi thực dân đạt được mục tiêu này một cách nhanh chóng và tương đối êm ả, nhưng trong một số trường hợp khác thì việc bình định phải mất hàng thập kỷ hoặc không bao giờ thành công trọn vẹn. Trong quá trình đó, Pháp và các nước Châu Âu khác phải đương đầu với giới tinh hoa mà quyền lực của họ dựa vào những hệ thống chính trị, xã hội và văn hóa phức tạp. Cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa kẻ xâm lược người Pháp và nhà cai trị bản địa, mà còn giữa thực dân và tầng lớp tinh hoa bản xứ, và cuối cùng là giữa hai nền văn hóa khác nhau. Vấn đề về những nhà cai trị bản địa được thể hiện đặc biệt ở các xứ bảo hộ – những vùng lãnh thổ mà thực dân nắm quyền kiểm soát nhưng vẫn duy trì quyền lực trên danh nghĩa của các vị vua, sultan[14], maharajah[15], bey[16], dey[17] và những chính quyền truyền thống khác, cũng như các thể chế tiền thuộc địa.
Quyết định giữ lại một nhà vua hay một vương triều thể hiện nỗ lực xoa dịu sự phản đối của các lực lượng địa chính trị đối địch trong cuộc tranh giành giữa các nước đế quốc và thúc đẩy sự ủng hộ từ phía nhà cai trị bản xứ, chính quyền của ông ta cùng những thiết chế gắn liền với chế độ quân chủ. Để vương triều tiếp tục tồn tại ít nhất đã cung cấp một tấm màn che đậy cho chủ nghĩa thực dân trần trụi. Điều nguy hiểm là cá nhân quốc vương hay hoàng thân của họ có thể sẽ không chịu quy phục: những vị vua bù nhìn có khả năng đứng đằng sau giật dây, họ có thể đóng vai trò là tụ điểm phản đối sự cai trị của Pháp hoặc kích động nổi dậy. Thật vậy, điều này thường xảy ra ở Đông Dương, dù cho chủ nghĩa dân tộc kiểu cộng hòa và cộng sản của Việt Nam cuối cùng đều tránh việc chống đối tập trung vào các vị vua phong kiến. Tuy nhiên, Søren Ivarsson và Christopher Goscha khi đề cập đến Lào đã lập luận về “tầm quan trọng của việc tính đến những tác nhân phi cách mạng và phi cộng sản – thậm chí là các thành viên hoàng tộc – để hiểu rõ hơn về sự phức tạp trong quá trình hình thành các nhà nước hậu thuộc địa hiện đại” xuất phát từ những sắp đặt thời thuộc địa.[18]

Sự bành trướng của Pháp khiến nước này xung đột với nhiều vương triều khả kính trên khắp Đông Dương.[19] Pháo hạm Pháp mở màn cho cuộc xâm lược vào năm 1858, buộc Tự Đức – hoàng đế An Nam, khi ấy đang cai trị ở kinh thành Huế – phải nhượng lại các tỉnh miền Nam của đất nước. Nam Kỳ trở thành thuộc địa chính thức của Pháp từ đầu những năm 1860. Năm 1863, Pháp thiết lập nền bảo hộ đối với nước láng giềng Campuchia, nơi vua Norodom đồng ý liên minh chiến lược với Pháp vì lo ngại về mưu đồ của Xiêm và Việt Nam. Trong những năm 1870, Pháp bắt đầu tiến vào miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, phải đến tận giữa những năm 1880 thì nỗ lực này mới thành công: Trung Kỳ và Bắc Kỳ trở thành xứ bảo hộ của Pháp nhưng trên danh nghĩa vẫn nằm dưới sự cai trị của hoàng đế Việt Nam. Cuối cùng, vào đầu những năm 1890, Pháp đánh chiếm Lào, quốc gia nằm giữa Việt Nam và Thái Lan, chia nước này thành ba chính thể lớn. Pháp cai trị khu vực xung quanh Luang Prabang như một “xứ bảo hộ đặc biệt” dưới triều vua của xứ này. Một triều đại tiếp tục tồn tại ở một trung tâm khác là Champassak. Pháp cai quản nơi này cùng với chính thể lớn thứ ba – Viêng Chăn – một cách trực tiếp hơn, mặc dù thông tin pháp lý về sự kiểm soát của Pháp vẫn còn mơ hồ. Năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương do Toàn quyền ở Hà Nội đứng đầu, bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ của Việt Nam, Campuchia và từ những năm 1890, thêm Lào. Vua An Nam, vua Campuchia và vua Luang Prabang (thường được gọi là vua Lào, mặc dù tước hiệu này không được chính thức công nhận cho đến năm 1946) trở thành chư hầu của thực dân cai trị. Paris hy vọng rằng họ sẽ trở thành những người cộng tác ngoan ngoãn và hữu ích. Điều này không phải lúc nào cũng đúng, đặc biệt là ở Việt Nam.[20]
Chế độ quân chủ Việt Nam và chủ nghĩa thực dân Pháp
Ở đất nước bị Hán hóa nhất khu vực Đông Nam Á, các vị vua Việt Nam thời tiền thuộc địa nắm quyền lực mà trên danh nghĩa là do hoàng đế Trung Hoa trao cho. Hoàng đế Trung Hoa sắc phong và cho phép vua Việt Nam được tự trị, đổi lại phải dâng triều cống. Trên lãnh thổ của mình, vua Việt Nam tự xưng đế; nhưng đối với người Trung Quốc, ông vẫn chỉ là một vị “Thiên tử” nhỏ hơn hoàng đế ở Bắc Kinh. Do đó, Việt Nam là một trong những nước chư hầu ở ngoại vi Trung Hoa, mặc dù trong lịch sử, quan hệ giữa Huế và Bắc Kinh thường đi từ chiến tranh đến liên minh miễn cưỡng. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Hoa tạo thành cốt truyện chính trong lời tường thuật của Việt Nam về lịch sử nước nhà, bất chấp việc thừa nhận ảnh hưởng văn hóa từ Trung Hoa. Trong nước, chính quyền Việt Nam dựa vào quyền lực tối cao của triều đình và một bộ phận quan lại được tuyển chọn thông qua các kỳ thi cạnh tranh tương tự như ở Trung Quốc. Vương triều đang nắm quyền khi thực dân Pháp đến là nhà Nguyễn. Vị hoàng đế đầu tiên của triều đại này, Gia Long, đã đánh bại được các đối thủ vào năm 1802, một phần nhờ vào sự trợ giúp của Pháp.[21] Quốc vương trị vì đất nước từ một “tử cấm thành” với sự tráng lệ, lộng lẫy lấy cảm hứng từ triều đình Trung Quốc, và việc thực hiện các nghi lễ Nho giáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà vua. Con trưởng không được sắp đặt việc kế vị ngai vàng. Hoàng đế sẽ chỉ định thái tử trong số các hoàng tử (thường lên đến hàng chục người) hoặc những hoàng thân khác, hoặc một hội đồng hoàng gia sẽ đưa ra lựa chọn sau khi vua băng hà. Thủ tục này làm nảy sinh sự cạnh tranh giữa những người muốn kế vị và âm mưu thủ đoạn giữa các thành viên hoàng tộc, cận thần và quan lại.
Bề ngoài, các thống đốc thực dân Pháp đối xử với hoàng đế Việt Nam một cách tôn kính, nhưng vẫn liên tục tìm cách làm suy yếu quyền lực của họ và toàn bộ hệ thống văn hóa mà quyền lực đó phụ thuộc vào. Pháp ban hành các bộ luật mới, kiểm soát hệ thống tài chính và bộ máy hành chính của đất nước, và cuối cùng bãi bỏ việc thi cử và bổ nhiệm quan lại. Thực dân Pháp gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế và thương mại, theo đó nông dân Việt Nam trở thành những người lao động bị trả lương thấp trong đồn điền và hầm mỏ. Mặc dù rất ít người được đi học, nhưng báo chí và giáo dục phương Tây đã truyền bá tư tưởng về chủ nghĩa hợp hiến, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa xã hội đến giới tinh hoa Âu hóa mới nổi, từ đó càng làm xói mòn lòng trung thành đối với triều đình. Như Nguyễn Thế Anh đã trình bày, Pháp đã biến cấu trúc quản trị thời tiền thuộc địa thành một cái vỏ, mặc dù chưa rỗng hoàn toàn.[22]

Giữa những năm 1800, vua Tự Đức (trị vì giai đoạn 1847-1883) đã cố gắng cản bước người Pháp. Việc ông đành nhượng cho Pháp các tỉnh Nam Kỳ và không có khả năng chống lại sự bành trướng của Pháp lên phía Bắc cho thấy những thách thức mà triều đình phải đối mặt. Mặc dù không thành công trong việc đẩy lùi quân Pháp, ông vẫn được nhân dân kính trọng. Tự Đức không có con; người kế vị ông (cháu trai) chỉ trị vì được ba ngày trước khi bị các triều thần phế truất vì không thực hiện đúng những nghi lễ dành cho tiên đế và vì ông đã cho phép một giáo sĩ Thiên chúa giáo vào Hoàng thành. Vị hoàng đế tiếp theo trị vì bốn tháng, và người kế vị ông chỉ ngồi trên ngai vàng trong vòng chưa đầy một năm. Có tin đồn rằng các triều thần đã đầu độc một hoặc cả hai người. Năm 1884, một ứng cử viên có triển vọng hơn lên ngôi. Đó là vua Hàm Nghi, khi đó mới 14 tuổi.
Vào đầu thời vua Hàm Nghi, thực dân Pháp tấn công lần cuối vào miền Bắc Việt Nam. Năm 1885, trong nỗ lực cuối cùng nhằm chống lại quân xâm lược, vị hoàng đế này đã tham gia vào kế hoạch chống Pháp do Tôn Thất Thuyết – một trong những quan nhiếp chính của triều đình – vạch ra. Những người kháng chiến đã đưa vua rời khỏi hoàng cung để lui về vùng rừng núi trong khi xảy ra giao tranh giữa Pháp và Việt Nam.[23] Sau khi giành được quyền kiểm soát Huế, Pháp đưa anh trai Hàm Nghi là Đồng Khánh lên làm hoàng đế. Hàm Nghi tự lập một triều đình nhỏ trong lúc ẩn náu. Một kẻ phản bội đã chỉ điểm cho Pháp nơi trú ẩn của vua Hàm Nghi, quân đội Pháp cuối cùng đã bao vây nơi này và bắt giữ hoàng đế vào năm 1888. Pháp quyết định không hành quyết hay xét xử nhà vua trẻ hiện đã bị phế truất, chắc hẳn vì không muốn biến ông thành một vị anh hùng cảm tử. Người Pháp có lẽ cũng muốn giữ ông như một ví dụ để cảnh cáo những người kế vị về những gì có thể xảy ra nếu họ chống lại thực dân Pháp, đồng thời cũng như một vị vua dự phòng có khả năng trở lại ngai vàng nếu tình hình cho phép. Vì vậy, Pháp đã đày Hàm Nghi đến Algeria, một địa điểm xa xôi an toàn, nơi chúng có thể quản lý ông chặt chẽ. Hàm Nghi sống lưu vong, mai danh ẩn tích suốt 55 năm và qua đời vào năm 1943. Trong khi đó, Đồng Khánh chỉ cầm quyền ba năm, không có được sự ủng hộ của cả đồng bào mình lẫn người Pháp.
Ở Việt Nam xuất hiện sự chia rẽ giữa những người ủng hộ cựu hoàng và tân hoàng, và tên của vua Hàm Nghi đã truyền cảm hứng cho một làn sóng kháng chiến liên tục: phong trào Cần Vương (nghĩa là “phò vua”, “giúp vua”) kéo dài vài năm nhưng không thành công trong việc lật đổ Pháp hay đưa Hàm Nghi trở lại. Tuy nhiên, phong trào bảo hoàng này vẫn thu hút được nhiều người ủng hộ vào những năm đầu thế kỷ XX, khi Phan Bội Châu thành lập Hội Duy Tân năm 1904 và tổ chức phong trào Đông Du đưa thanh niên Việt Nam sang du học ở Nhật Bản – quốc gia được coi là một hình mẫu hiện đại hóa. Theo phong trào này, Hoàng thân Cường Để, cháu trực hệ của vua Gia Long, đã đến Tokyo vào năm 1906. Dưới áp lực từ Paris, Tokyo bắt đầu trục xuất người Việt vào năm 1908 nhưng cho phép Cường Để quay trở lại đây vào năm 1915, và ông ở lại Nhật Bản trong hầu hết 36 năm sau đó. Cường Để cho rằng tổ tiên ông – con trai vua Gia Long – đã phải chịu bất công khi không được lên ngôi, từ đó khẳng định yêu sách của mình đối với ngai vàng nước Nam và tập hợp những tình cảm trung quân ái quốc còn sót lại, mặc dù lúc đó ông đã không còn bất kỳ cơ hội nào để trở thành hoàng đế.[24]


Theo quan điểm của Pháp, người kế vị Đồng Khánh là Thành Thái có một khởi đầu tốt đẹp vào năm 1889, mặc dù một vài năm sau đó, Pháp bắt đầu cho rằng ông không bình thường. Theo họ, vị hoàng đế này rất trụy lạc, buông thả và có nhiều hành vi lập dị. Ông bắt các thê thiếp của mình dựng quầy hàng và giả làm người bán trong khuôn viên hoàng cung, sau đó chơi trò đóng vai bác sĩ và bệnh nhân với phụ nữ. Trên thực tế, những xung đột cá nhân căng thẳng giữa hoàng đế và Khâm sứ Pháp ở Huế – một cựu nghị sĩ ương ngạnh được bổ nhiệm vị trí này sau khi thua một cuộc bầu cử – đóng vai trò lớn trong việc làm tình hình xấu đi. Có nhiều đánh giá khác nhau về việc liệu Thành Thái thật sự bất ổn về tinh thần hay giả vờ làm vậy như một cách kháng cự thụ động; và người Pháp có lẽ đã lợi dụng tính khí thất thường của hoàng đế để làm tổn hại uy tín của ông, nhất là khi ông có khả năng trở thành một “tâm điểm kháng chiến”. Cuối cùng, năm 1907, người Pháp ép Thành Thái phải thoái vị và đưa ông đi an trí ở miền Nam Việt Nam.[25]
Người kế vị Thành Thái là một trong những con trai của ông, Duy Tân, khi đó mới bảy tuổi.[26] Đối với thực dân, cậu có vẻ rất lý tưởng, thông minh, biết nói tiếng Pháp và được dạy dỗ bởi các gia sư người Pháp. Tuy nhiên, theo William J. Duiker, “tin đồn bay khắp kinh đô rằng […] vua Duy Tân còn chống Pháp hơn cả cha mình”; và việc ông lựa chọn một từ tiếng Việt có nghĩa là “hiện đại hóa” làm niên hiệu là “một hành động dường như tuyên bố sự gần gũi về tinh thần giữa ông và Thiên hoàng Minh Trị ở Nhật Bản”.[27] Duy Tân thích nghi tốt với các trách nhiệm hoàng gia của mình, thực hiện đúng các nghi lễ, và vì tuổi còn nhỏ nên ít gây chú ý, trong khi người Pháp tiếp tục củng cố quyền thống trị về chính trị và kinh tế. Sự chung sống có vẻ hòa thuận giữa triều Nguyễn và chính quyền thuộc địa kéo dài chưa đầy một thập kỷ trước khi một biến cố khác xảy ra, bộc lộ quyền lực còn sót lại của hoàng đế Việt Nam và những khó khăn mà người Pháp phải đối mặt trong việc thao túng triều đình và biến người đứng đầu triều đình đó thành một thuộc cấp ngoan ngoãn.
Năm 1916, một phần vì phản đối việc Pháp tuyển mộ người Việt Nam tham gia vào chiến tranh, một cuộc nổi dậy chống Pháp đã nổ ra, quy tụ nhiều tổ chức bí mật thuộc nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Duy Tân, lúc này đã là một thanh niên 17 tuổi, bị liên lụy; nhưng không rõ mức độ tham gia của ông vào cuộc nổi dậy chính xác là chừng nào. Lời kêu gọi khởi nghĩa được viết vào ngày 4 tháng 5 mang dấu triện của nhà vua, trong đó đề cập đến Thành Thái và Hàm Nghi và báo trước ý định của vua Duy Tân là “giành lại tự do cho nước ta”. Những người lãnh đạo cuộc nổi dậy đã liên lạc với Duy Tân và đưa hoàng đế ra khỏi cung điện vào ngày 5 tháng 5, nhưng Pháp đã bắt được quân nổi dậy ngay sau đó. Các bác sĩ khám bệnh cho Duy Tân (báo cáo của những người này đã được Pierre Brocheux trích dẫn) chẩn đoán rằng ông là một minh chứng rõ rệt cho “loại người bị thoái hóa ở mức độ trung bình” với khuynh hướng cá nhân và di truyền dẫn đến hành vi bất thường. Một số người khác cho rằng ông đang trải qua một cuộc khủng hoảng tuổi vị thành niên. Brocheux bác bỏ các quan điểm này, lập luận rằng hành động của vua Duy Tân xuất phát từ tinh thần trách nhiệm thực sự. Nhiều năm sau, vào năm 1936, Duy Tân (mặc dù khi ấy đang tìm kiếm sự nhượng bộ từ phía Pháp) đã bào chữa rằng ông can thiệp vào năm 1916 là để tránh đổ máu.[28]

Sau khi bác bỏ đề xuất của một viên chức Pháp về việc hành hình vua Duy Tân, chính quyền Pháp đã đày vị cựu hoàng đến Réunion.[29] Bên cạnh đó, họ cũng đày Thành Thái – cha của vua Duy Tân, người đang bị giam cầm ở miền Nam Việt Nam và tiếp tục có những biểu hiện bị Pháp đánh giá là tâm thần bất ổn và thái độ chống Pháp – sang thuộc địa của Pháp trên Ấn Độ Dương. Hai cha con cựu hoàng bị cô lập cả ở Việt Nam và Réunion. Thành Thái sống mai danh ẩn tích, được phép về Việt Nam năm 1945 nhưng bị quản thúc. Ông mất tại Sài Gòn năm 1954.
Theo David Marr, cuộc nổi dậy năm 1916 là “nỗ lực chống thực dân theo chủ nghĩa quân chủ cuối cùng đáng được nhắc đến”.[30] Ông nhấn mạnh vai trò biểu tượng của hoàng đế: một vị vua trẻ, người mà khi tham gia vào cuộc nổi dậy “đã thực hiện một hành động nhỏ nhưng có ý nghĩa về mặt tinh thần… Hành động ấy giúp duy trì tinh thần nhân dân, để họ có thể tiếp tục hướng về ngày mà tất cả những điều sai trái đều được sửa chữa”. Marr nhận xét rằng nếu cuộc lưu đày của vua Duy Tân cho thấy người Pháp đã hoàn toàn làm chủ triều đình như thế nào, nó cũng chứng tỏ rằng một vị hoàng đế vẫn có thể gây ảnh hưởng lên đồng bào mình và đóng vai trò là tâm điểm và tác nhân của một cuộc nổi loạn. Mặc dù vào những năm 1920, những người theo chủ nghĩa dân tộc không còn trung thành với nhà vua nữa, một phần vì các vị vua đã thất bại trong việc đuổi người ngoại quốc ra khỏi lãnh thổ, nhưng triều đình vẫn có được chút kính trọng còn sót lại. Năm 1925, nhà cải cách (và theo chủ nghĩa cộng hòa) Phan Châu Trinh vẫn lấy làm tiếc rằng chế độ quân chủ vẫn là hình thức chính phủ ưa thích của giới “sĩ phu” ở Việt Nam, và rằng “cho đến nay, người dân nông thôn vẫn chưa biết gì về dân chủ; họ tôn thờ nhà vua trong đầu như thể ông ta là một vị thần hay một nhà hiền triết. Họ không những không dám đặt câu hỏi ‘liệu chúng ta có nên có một vị vua hay không’, mà còn hành động như thể người nêu ra câu hỏi này sẽ bị sét đánh, bị đá vùi, bị voi giày ngựa xéo”.[31]
Năm tuyên bố trên được đưa ra cũng đánh dấu cái chết của người kế vị Duy Tân là Khải Định – người bị Phan Châu Trinh và những người theo chủ nghĩa dân tộc khác chỉ trích vì cộng tác chặt chẽ với Pháp. Vị hoàng đế lên ngôi vào năm 1925, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, là Bảo Đại.[32] Là người dành những năm tháng đầu đời ở Pháp, rõ ràng muốn tiếp tục sống ở đó và nổi tiếng ăn chơi, trong suốt 20 năm trị vì, Bảo Đại không hăng hái đảm nhận vai trò gì. Như Khải Định, ông lặng lẽ chấp nhận chỉ thị của Pháp. Cũng vào năm 1925, Pháp bắt Phan Bội Châu, người sáng lập Hội Duy Tân (nhưng nay lại ưa thích chủ nghĩa cộng hòa của Tôn Trung Sơn như một hình mẫu cho chủ nghĩa dân tộc Việt Nam). Ông bị giải về nước từ nơi trú ẩn ở Thượng Hải, bị kết án và quản thúc trong suốt phần đời còn lại. Phan Châu Trinh thì mất năm 1926. Những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan hơn lúc này đã tổ chức kháng chiến, bao gồm cả những người Mác-xít tiên phong tập hợp lại thành Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1930.
Ý định đưa cựu hoàng trở lại ngai vàng
Trong khi đó, vua Duy Tân sống ở Réunion, được phép sử dụng tên khai sinh và tước hiệu Hoàng tử Vĩnh San. Sau khi vợ ông phải trở về Việt Nam vì sức khỏe yếu, ông có quan hệ tình ái với một vài phụ nữ địa phương và sinh được mười người con. Ông viết một số bài tiểu luận và thơ ca được đánh giá cao trên một tạp chí văn học địa phương. Ông tập bắn cung, quần vợt và những môn thể thao khác, thỉnh thoảng đua ngựa để kiếm thêm tiền tiêu vặt. Ông chơi vĩ cầm và tham gia vào Hội Tam Điểm. Ông đam mê vô tuyến điện và quản lý một cửa hàng sửa chữa radio. Ông có vẻ ít liên hệ với những người Việt khác.

Vị cựu hoàng không thường xuyên tham gia vào đời sống chính trị dù ông ủng hộ Mặt trận Bình dân Pháp trong những năm 1930. Có một bức ảnh chụp ông đứng phát biểu dưới cờ búa liềm, mặc dù không có bằng chứng nào cho thấy ông là đảng viên Đảng Cộng sản. Trong một lá thư gửi cho tờ báo Cộng sản L’Humanité năm 1936 chưa từng được công bố, ông viết: “An Nam có quyền trở thành một quốc gia độc lập và trung lập giống như một quốc gia Châu Âu”[33]. Khi một người Nam Phi đến thăm Duy Tân hỏi ông rằng liệu ông có muốn hồi hương hay không, ông cầm cây vĩ cầm của mình lên và chơi bản “J’ai deux amours” – ca khúc nổi tiếng của ca sĩ Josephine Baker hát về hai tình yêu của cô là “mon pays et Paris” (tổ quốc tôi và Paris), sau đó nghẹn ngào hỏi: “Tại sao tôi lại không thể trở về An Nam?… Chắc chắn tôi chẳng thể tiếp tục thối rữa trên hòn đảo nhỏ này, nơi chẳng có quan hệ gì với tôi cả… Tại sao họ không thể cho tôi về nhà?”[34] Năm 1922, ông xin nhập quốc tịch Pháp nhưng bị từ chối. Ông cũng vài lần xin đến sống ở Pháp, nhưng các yêu cầu của ông đều bị từ chối hoặc không được trả lời. Điều này cho thấy nhà chức trách Pháp lo ngại rằng sự hiện diện của ông ở “mẫu quốc” có thể gây khó xử, nhất là khi tinh thần chống thực dân của người Việt và những người ủng hộ họ đang ngày càng dâng cao.

Tình hình chính trị Châu Á thay đổi đáng kể trong những năm 1930, đặc biệt là khi Nhật Bản xâm lược Mãn Châu năm 1931. Năm sau đó, Nhật Bản thành lập chính phủ Mãn Châu Quốc và đặt Phổ Nghi, hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc (bị phế truất năm 1912), làm Quốc trưởng. Động thái này đã khích lệ Hoàng thân Cường Để ở Tokyo, với hy vọng rằng nhà bảo trợ Nhật có thể bổ nhiệm ông làm Quốc trưởng Việt Nam nếu họ tiến vào Đông Nam Á. Chiến tranh nổ ra ở Châu Âu vào cuối thập kỷ làm dấy lên những vấn đề về Đông Dương nhanh hơn là cuộc chiến ở Châu Á. Sau chiến thắng của Đức trước Pháp, chính quyền thực dân ở Hà Nội cam kết trung thành với Thống chế Pétain và cuối cùng cũng đồng ý hợp tác với Tokyo, tuân theo những yêu cầu khắt khe hơn của Nhật Bản về việc đóng quân ở Đông Dương và khai thác các nguyên liệu thô của xứ này. Nhật dễ dàng làm việc với Đô đốc Decoux – Toàn quyền của chính phủ Vichy, còn Bảo Đại thì dần rơi vào quên lãng[35]. Thật đáng thất vọng cho vị hoàng thân lưu vong mà đáng lẽ ra sẽ trở thành hoàng đế Cường Để, Tokyo không có nhu cầu thay thế nhà vua đang tại vị.
Trên đảo Réunion, với thất bại của Pháp năm 1940, Duy Tân đứng về phía lực lượng Pháp quốc Tự do. Cửa hàng radio của ông là nơi hội họp những người tìm kiếm thông tin về chiến tranh, mặc dù việc nghe các chương trình phát sóng nước ngoài trên hòn đảo do chính quyền Vichy kiểm soát là bất hợp pháp, và ông đã bị bắt giữ một thời gian ngắn vào đầu năm 1942. Khi phe de Gaulle chiếm Réunion vào cuối năm 1942, Duy Tân xin gia nhập lực lượng Pháp quốc Tự do ở London, nhưng yêu cầu này bị từ chối. Theo Brocheux, đó là vì các cơ quan an ninh xem ông là một người theo chủ nghĩa cộng sản hoặc chủ nghĩa xã hội cứng rắn. Duy Tân được phép nhập ngũ vào hải quân Pháp nhưng chỉ phục vụ được một thời gian ngắn vì ông bị say sóng. Một sĩ quan cấp cao, Tướng Boissieu, đã báo cáo một cách tích cực với de Gaulle về thái độ phục vụ tốt của vua Duy Tân, và ông được phép chuyển sang quân đội. Nhà chức trách sau đó cử ông đến Madagascar với hy vọng rằng ông sẽ dập tắt được sự bất bình đang gia tăng giữa những binh lính người Việt vì họ mãi vẫn chưa thể hồi hương về Đông Dương do các tuyến tàu liên kết Madagascar và Việt Nam bị đình trệ sau khi Pháp bại trận. Duy Tân hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Năm 1945, de Gaulle gọi ông đến Pháp, và ông đến đây sau khi Đức đầu hàng. Ông gia nhập lực lượng Pháp chiếm đóng ở Đức trong một khoảng thời gian ngắn. Với hy vọng tiểu đoàn của ông sẽ được điều đến Việt Nam, vị cựu hoàng đã có một vài buổi nói chuyện với lính Pháp về Đông Dương. Tuy nhiên, cuối cùng tiểu đoàn không được điều chuyển, và cấp trên sớm triệu hồi Duy Tân về Paris. Tại đây, ông đã liên hệ với những người Việt Nam khác, nhưng theo Brocheux, Duy Tân không thu hút được sự quan tâm của những người đồng hương ở hải ngoại[36].

Việt Nam lúc này đang trong tình trạng hỗn loạn[37]. Quân Nhật đã chiếm đóng đất nước vào tháng 3 năm 1945 và thiết lập toàn quyền kiểm soát đối với nước Việt Nam độc lập trên danh nghĩa dưới triều vua Bảo Đại. Quân Nhật đầu hàng ngày 15 tháng 8; và đến ngày 2 tháng 9, lãnh tụ Cộng sản Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bảo Đại thoái vị, trao ấn kiếm cho Hồ Chí Minh, từ đó trở thành một công dân bình thường và là Cố vấn tối cao cho chính phủ mới. Hồ Chí Minh cử ông đi làm nhiệm vụ ở Hồng Kông. Trong khi đó, quân Trung Quốc đã tiến vào miền Bắc Việt Nam, quân Mỹ tiến vào miền Nam; còn Pháp thì nhăm nhe thiết lập lại quyền lực và lý tưởng nhất là giữ nguyên hiện trạng thuộc địa, mặc dù còn đang do dự giữa việc công nhận hay chống lại chính phủ Hồ Chí Minh. Làm thế nào Pháp có thể khôi phục quyền lực của mình và đảm bảo quyền kiểm soát thuộc địa? De Gaulle có một kế hoạch. Ông ta viết trong hồi ký của mình như sau:
“Tôi đã lập một kế hoạch bí mật. Đó là trao cho cựu hoàng Duy Tân phương tiện để ông ta tái xuất, nếu người kế vị và người thân của ông ta là Bảo Đại tỏ ra hoàn toàn bất lực trước thời thế. Dù Duy Tân bị chính quyền Pháp phế truất năm 1916, phải trở lại làm Hoàng tử Vĩnh San và chuyển đến Réunion, nhưng trong suốt cuộc chiến này, ông đã quyết tâm phục vụ trong quân đội của chúng ta. Ông giữ cấp bậc chỉ huy. Hơn 30 năm lưu đày không hề xóa đi ký ức về vị vua này trong tâm hồn người dân An Nam. Ngày 14 tháng 12 năm 1945, tôi đã đón tiếp ông ấy để nói chuyện thẳng thắn xem chúng tôi có thể cùng nhau làm những gì”.[38]
Duy Tân – người chưa chính thức thoái vị khi bị lưu đày năm 1916 – có thể được khôi phục ngôi vị. Chắc hẳn de Gaulle tự tin rằng mình sẽ có một chư hầu dễ bảo và, như David Marr đã nhận xét, “de Gaulle hẳn đã coi việc vị hoàng tử hoàn toàn không biết gì về các sự kiện diễn ra ở quê hương mình là một lợi thế”[39]. De Gaulle sẽ cùng Duy Tân sang Việt Nam vào đầu năm 1946 và Duy Tân sẽ thay thế Bảo Đại ngồi trên ngai vàng. Đó là kế hoạch của de Gaulle khi Duy Tân khởi hành từ Paris về thăm gia đình ở Réunion vào cuối tháng 12. Trên đường, máy bay của ông rơi ở Trung Phi, tất cả hành khách đều thiệt mạng. De Gaulle nhận xét rằng Pháp rõ ràng đã không gặp may.

Trên thực tế, không phải ai cũng ủng hộ sáng kiến của de Gaulle. Cao ủy Pháp tại Đông Dương, Đô đốc Thierry d’Argenlieu, có cùng cảm nhận tích cực với tướng de Gaulle về Duy Tân và về việc khôi phục ngai vàng, nhưng các quan chức tại Bộ Thuộc địa lại tỏ ra nghi ngờ về cả năng lực cá nhân của Duy Tân trong việc đáp ứng kỳ vọng của de Gaulle, lẫn khả năng một vị vua có thể về nước tập hợp nhân dân Việt Nam quanh lá cờ Pháp. Một số người bày tỏ quan ngại về yêu cầu thống nhất ba kỳ của Duy Tân (điều mà Paris đã luôn cương quyết phản đối) và những kỳ vọng mà ông có thể có về một nền độc lập hoàn toàn và thực sự cho Việt Nam[40].
Nếu Duy Tân còn sống, liệu ông có giành lại được ngai vàng hay không, liệu người Việt (đặc biệt là những người cộng sản) có đón nhận ông hay không và liệu triều đại của ông có thể đem đến một kết quả khác với cuộc chiến tranh đã sớm bắt đầu ở Việt Nam hay không là những câu hỏi mà ta chỉ có thể đoán câu trả lời. Duy Tân chưa chắc đã đủ khả năng làm như vậy, nhưng điều thú vị là người Pháp, hoặc ít nhất là de Gaulle và các cộng sự của ông ta, đã coi trọng chế độ quân chủ đủ nhiều và đánh giá phần tử chống đối trước đây đủ cao để sẵn sàng chơi quân bài đó.
De Gaulle từ chức vào đầu năm 1946, để lại vấn đề Đông Dương cho những người khác giải quyết. Cuối năm đó, xung đột vũ trang nổ ra giữa Pháp và những người theo chủ nghĩa dân tộc do cộng sản lãnh đạo. Trong khi đó, Pháp đã thông qua hiến pháp mới cho Đệ tứ Cộng hòa, quyết tâm tái lập và duy trì quyền lực đế quốc, và thành lập Liên hiệp Pháp (Union Française) – một liên hiệp các lãnh thổ hải ngoại và quốc gia hội viên (états associés), mặc dù trên danh nghĩa là tự trị nhưng vẫn hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của Pháp. Năm 1949, Pháp đưa Bảo Đại trở lại với tư cách là Quốc trưởng Việt Nam trên danh nghĩa, không có tôn hiệu, chấp nhận thống nhất ba kỳ, và công nhận các quốc gia hội viên là Việt Nam, Campuchia dưới thời vua Sihanouk và Lào dưới thời Vua Sisavang Vong. Tuy nhiên, quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương đã chấm dứt chỉ trong vòng 5 năm kể từ khi Bảo Đại trở lại. Triều Nguyễn lụi tàn.
Hàm Nghi qua đời lặng lẽ năm 1943, Duy Tân chết trong vụ tai nạn máy bay năm 1945, còn Thành Thái thì được phép trở về Việt Nam và bị theo dõi cho đến khi ông qua đời vào năm 1954. Cường Để sống cho đến năm 1951, không bao giờ từ bỏ hy vọng giành được ngai vàng Việt Nam, mặc dù sự lạc quan bùng nổ của ông vào cuối những năm 1930 đã sớm tan thành mây khói. Bảo Đại vẫn là người đứng đầu nước Việt Nam Cộng hòa phi cộng sản cho đến năm 1955, khi ông bị lật đổ trong cuộc đảo chính do Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Ông dành phần đời còn lại ở Pháp, nơi ông qua đời vào năm 1997. Một trong các cháu trai của ông, cư trú tại Pháp, hiện đang tự tuyên bố là người kế vị ngai vàng Việt Nam.
Thành Thái được an táng gần tổ phụ ở Huế, còn Hàm Nghi thì an nghỉ tại quê người vợ Pháp của ông ở Dordogne. Mộ của Duy Tân được đặt ở Trung Phi, nơi máy bay rơi. Năm 1987, theo yêu cầu của gia đình, tro cốt của ông đã được cải táng, đưa qua Paris và làm lễ tại một ngôi chùa Phật giáo, rồi được chuyển về Việt Nam và an táng tại Huế dưới sự bảo trợ của chính quyền Việt Nam. Vì chống Pháp nên Hàm Nghi là một vị anh hùng đối với Việt Nam; và vì ủng hộ Pháp quốc Tự do nên ông cũng được người Pháp tôn vinh. Người dân Việt Nam muốn đưa hài cốt của Hàm Nghi hồi hương vì ông được xem như một vị anh hùng, nhưng gia đình ông đã từ chối[41].


Lưu đày và chế độ thực dân
Tiểu sử của Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân (cũng như Hoàng đế Bảo Đại và Hoàng thân Cường Để) là những ví dụ về hành trình cá nhân xuyên quốc gia dưới chế độ thực dân, là bi kịch về quyền lực và mất mát, về kháng chiến và thất bại, về sự lưu đày và niềm hy vọng có thể trở lại. Chúng để lại những hình ảnh cay đắng: một vị hoàng đế lưu vong nghỉ ngơi trong phòng khách ở Algeria, trên người vẫn khoác tấm áo choàng lụa Việt Nam; một vị khác thì loay hoay với chiếc radio giữa những lùm cây um tùm trên một hòn đảo Ấn Độ Dương, gần đó là người cha sống trong thế giới riêng của ông. Chúng cũng cho thấy hình ảnh những người bị lưu đày vì tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp (mặc dù có những yếu tố khác được cân nhắc trong trường hợp của Thành Thái) mà không có thủ tục tố tụng, không xét xử, không có quyền kháng cáo – những nhân vật già nua bị Pháp giam giữ và giám sát, nhưng vẫn chờ đợi một ngày có thể được đảm nhận vai trò mới trong đời sống quốc gia.
Lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam vào cuối những năm 1800 – đầu những năm 1900 là lời nhắc nhở về vai trò và số phận chung của quốc vương các nước Đông Á, những người đã nỗ lực chống ngoại xâm với mức độ thành công khác nhau. Một số đóng vai trò là động lực chính cho quá trình hiện đại hóa, như Thiên hoàng Minh Trị của Nhật Bản và các vua Mongkut và Chualongkorn của Xiêm – mặc dù những vị vua này cũng phải đối mặt với nhiều thay đổi, khi Xiêm bị buộc phải chuyển từ chế độ quân chủ tuyệt đối sang chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1932, và Thiên hoàng Hirohito phải từ bỏ địa vị thiêng liêng của mình vào năm 1945. Ở Trung Quốc, nhà Thanh bị cách mạng lật đổ, sau đó được khôi phục tạm thời tại Mãn Châu Quốc. Một số triều đại vẫn tồn tại dưới sự cai trị của thực dân, mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn hơn, như tại các xứ bảo hộ của Pháp, các phiên vương quốc của Ấn Độ, bang Shan của Miến Điện hay các vương quốc Hồi giáo do Sultan đứng đầu ở Mã Lai[42].
Trên các lãnh thổ mới, với sự hậu thuẫn của lực lượng vũ trang, thực dân phải đối mặt với sự lựa chọn giữa việc duy trì triều đại bản địa hay loại bỏ nó và hy vọng tìm được người cộng tác ở chỗ khác. Patrice Morlat giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan này bằng ví dụ về thực dân Pháp: “Tìm kiếm sự hỗ trợ và cộng tác từ triều đình và quan lại, hay gạt họ sang một bên để xây dựng một tầng lớp tinh hoa người bản địa mới được đào tạo trong các trường của Pháp, nói tiếng Pháp, chối bỏ văn hóa Trung Quốc và Nho giáo để đi theo con đường do thực dân Pháp chỉ định? Đó chính là vấn đề!”[43]. Anh đã bãi bỏ chế độ quân chủ ở Miến Điện năm 1885, và Nhật cũng làm điều tương tự ở Hàn Quốc vào năm 1910. Hà Lan dùng chính quyền của mình để cai quản các vương quốc Hồi giáo ở Indonesia, người Anh cũng làm vậy ở Shan và Mã Lai nhưng không bãi bỏ chế độ cai trị cha truyền con nối. Pháp cũng giữ lại triều đình, nhưng ở Việt Nam không phải lúc nào cũng có những kẻ bề tôi trung thành mà Pháp tìm kiếm, dù theo truyền thống hay thuộc tầng lớp tinh hoa mới.
Từ khi bắt đầu đô hộ cho đến khi nhận lấy cái kết cay đắng ở Việt Nam, thực dân Pháp đã cố gắng thao túng và nhào nặn một triều đình phù hợp với mục đích của mình. Chúng đôi khi tìm được một vị quốc vương sẵn sàng hợp tác, nhưng không thành công lâu dài. Đó là minh chứng cho những nghịch lý vốn có khi chính quyền thực dân cố gắng biến một thể chế từng là điểm tựa cho bản sắc dân tộc thành một thể chế có thể vừa nghe lời Pháp, vừa duy trì khả năng thu hút sự ủng hộ và tôn trọng của dân chúng.
Đặc biệt là vào những thời điểm nguy hiểm, Pháp nhận thấy đã đến lúc phải ra tay với một vị quốc vương gây phiền toái. Chúng đã trục xuất Hàm Nghi khi mới bắt đầu đô hộ An Nam và Bắc Kỳ, những năm tháng mà Pháp cũng đang phải đối mặt với cuộc nổi dậy ở Campuchia. Chúng đàn áp cuộc nổi dậy của người Khmer (trong đó có sự tham gia của một số hoàng thân) và thắt chặt sự thống trị đối với xứ bảo hộ bằng cách khiến quốc vương phải nhượng bộ nhiều hơn. Nếu vua Norodom không đồng ý nhượng lại cho Pháp nhiều quyền lực hơn theo công ước mới năm 1884, ông ta có thể đã phải chịu chung số phận với Hàm Nghi. Thành Thái bị lưu đày năm 1907, ngay sau sự kiện ngai vàng của Luang Prabang được kế vị trong hòa bình cùng một cuộc tranh giành ngôi vị gay gắt hơn ở Campuchia, cả hai đều diễn ra vào năm 1904 – thái tử ở Phnom Penh, Hoàng tử Yukanthor, người từng công khai phản đối thực dân, đã không được lên ngôi. Những năm tháng này cũng chứng kiến sự xuất hiện của Việt Nam Quang Phục Hội, phong trào Đông Du và sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam. Dù Thành Thái chưa thách thức người Pháp một cách rõ ràng, nhưng việc một vị vua lập dị lên ngôi cũng đã đủ để gây lo ngại. Sau đó, Duy Tân bị lưu đày trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, một thời kỳ bạo loạn và nổi dậy diễn ra trên khắp đế quốc Pháp. Pháp không chỉ phải đối mặt với thách thức từ vua Duy Tân ở Việt Nam và vị hoàng thân Cường Để đang lưu vong, mà còn từ hai hoàng thân người Campuchia là Mayura (người bị Pháp đày sang Việt Nam) và Yukanthor (tự đi lưu vong ở Thái Lan) – những người đang thăm dò thái độ của Đức. Lưu đày là một chiến thuật thiết thực cực đoan, được sử dụng chủ yếu để loại bỏ một vị vua hoặc hoàng tử của xứ bảo hộ mà không khiến ông ta trở thành một anh hùng bị cầm tù hay bị hành quyết.
Không chỉ các thành viên hoàng tộc mới bị lưu đày cưỡng bức hoặc tự nguyện. Hồ Chí Minh cùng nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc khác đã phải sống lưu vong nhiều năm, trở thành đối tượng bị Pháp theo dõi và sách nhiễu. Thực dân đã đưa nhiều người Việt Nam bất đồng chính kiến đi đày trong nước, đặc biệt là trên đảo Poulo Condor (Côn Đảo), nơi Pháp lập trại giam ngay sau khi chiếm được Nam Kỳ. Trớ trêu thay, như Peter Zinoman đã chỉ ra, việc giam giữ trên đảo và trong các nhà tù khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chính trị hóa tù nhân và thiết lập những mạng lưới cách mạng cùng các chi bộ cộng sản[44]. Các tù nhân, có vẻ bao gồm cả một số tù nhân chính trị, được đưa đến vùng lãnh thổ New Caledonia ở Nam Thái Bình Dương vào cuối những năm 1800.[45] Từ năm 1885 đến năm 1922, Pháp đã đưa gần một nghìn tù nhân người Việt – một vài trong số đó chắc chắn là tù nhân chính trị – đến Guiana (Guyane). Vào năm 1931, Pháp đã chuyển một đoàn gồm 353 quân nổi dậy từ Việt Nam đến Inini, thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ[46].


Thực ra Thành Thái và Duy Tân không phải là những tù nhân chính trị Việt Nam đầu tiên bị đưa đến Réunion. Cùng với việc bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1848, các chủ đồn điền rất cần lao động, đặc biệt là khi người Anh ngăn không cho Pháp tuyển mộ lao động có giao kèo ở Ấn Độ. Đầu những năm 1860, ngay sau khi Nam Kỳ vừa bị Pháp chiếm đóng, một chủ đồn điền người Réunion đã đến đây để tìm kiếm công nhân. Từ năm 1863 đến năm 1868, 1287 tù nhân Việt Nam đã đến Réunion, chấp nhận lao động theo giao kèo 5-6 năm thay vì bị giam giữ. Hai phần ba số lao động Việt là tù nhân chính trị, bị kết án vì phản đối Pháp chiếm Nam Kỳ[47].
Hàm Nghi ở Algeria và Thành Thái cùng Duy Tân ở Réunion (cũng như Cường Để ở Nhật Bản) là những trường hợp lưu vong đặc biệt. Ba nhân vật này là ví dụ tiêu biểu cho việc lưu đày các vị vua đang trị vì. Trong trường hợp của Duy Tân (và có thể cả Hàm Nghi nữa), đó là một vị vua còn hy vọng sẽ giành lại được ngai vàng; còn Cường Để thì nuôi hy vọng trở thành hoàng đế nhờ sự hậu thuẫn của Pháp hoặc Nhật. Ý tưởng về sự trở lại của hoàng đế không phải là quá viễn vông như khi vừa mới nghe qua: lẽ ra Pháp có thể đã khôi phục ngôi vị cho một vị vua Hàm Nghi hòa giải với Pháp vào năm 1907 hoặc 1916, Nhật có thể đã biến Cường Để thành một Phổ Nghi của An Nam, Duy Tân rời Paris vào tháng 12 năm 1945 với suy nghĩ rằng ông sẽ thực sự trở lại Huế, và Pháp đã đưa cựu hoàng Bảo Đại trở lại làm Quốc trưởng Việt Nam vào năm 1949. Tuy nhiên, trong trường hợp này, không cựu hoàng nào được quay trở lại ngai vàng. Về lâu dài, số phận của những vị vua lưu vong nhà Nguyễn và triều đại mà họ đại diện hóa ra cũng không tốt đẹp hơn số phận của những thành viên gia tộc Bourbon, Bonaparte hay Orléan.■
Nguồn: Aldrich, Robert. “Imperial Banishment: French Colonizers and the Exile of Vietnamese Emperors.” In French History and Culture: Papers from the George Rudé Seminar, tập 5, các trang 123-33. 2014.
[1] Robert Aldrich là Giáo sư Lịch sử Châu Âu tại Đại học Sydney.
[2] Xem Philip Mansel và Torsten Riotte, chủ biên, Monarchy and Exile: The Politics of Legitimacy from Marie de Medicis to Wilhelm II (London, 2011).
[3] Những người Pháp (ban đầu phần lớn là giới quý tộc) rời khỏi nước Pháp để sống lưu vong ở nước ngoài sau cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 (ND).
[4] François Dominique Toussaint Louverture (1743?-1803): nhà lãnh đạo cuộc Cách mạng Haiti chống lại chế độ thực dân Pháp (ND).
[5] Abdelkader ibn Muhieddine (1808-1883): thủ lĩnh quân sự và tôn giáo người Algeria, người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Algeria vào giữa thế kỷ XIX (ND).
[6] Vương quốc Dahomey (hiện nay là Cộng hòa Benin) ở châu Phi tồn tại từ khoảng năm 1600 cho đến năm 1894, khi vị vua thứ 11 và cũng là cuối cùng, Béhanzin (1845-1906), bị Pháp đánh bại (ND).
[7] Samory Touré (1830-1900): lãnh đạo quân sự và nhà cải cách theo đạo Hồi, người lập ra một vương quốc hùng mạnh ở Tây Phi và chống lại sự bành trướng của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX (ND).
[8] Ranavalona III (1861-1917): nữ hoàng cuối cùng của Madagascar, trị vì từ năm 1883-1897 (ND).
[9] Xem Patrice Louis, Le Roi Béhanzin: Du Dahomey à la Martinique (Paris, 2011).
[10] Trong giai đoạn được đề cập đến bởi tờ báo này, ở Campuchia, ba hoàng thân chống thực dân Pháp đã bị trục xuất hoặc tự nguyện sống lưu vong: Pháp đưa Duong-Chakr đến Algeria năm 1893; hoàng tử Yukanthor trốn khỏi Paris dưới sự uy hiếp của Pháp năm 1900 và sống lưu vong cho đến năm 1934 ở Thái Lan; và Pháp trục xuất hoàng tử Mayura đến Việt Nam năm 1916. Xem Pierre L. Lamant, “L’Affaire Duong-Chakr,” Revue française d’histoire d’outre-mer 67: 246-247 (1980): 123-150; Pierre L. Lamant, L’Affaire Yukanthor: Autopsie d’un scandale colonial (Paris, 1989); và John Tully, Campuchia under the Tricolour: King Sisowath and the “Mission Civilisatrice” 1904-1927 (Clayton, Vic., 1996), 208-209.
[11] Nguyễn Thế Anh, Monarchie et fait colonial au Viet-Nam (1875-1925): Le Crépulscule d’un ordre traditionnel (Paris, 1992). Xem thêm Oscar Chapuis, The Last Emperors of Vietnam: From Tu Duc to Bao Dai (Westport, Conn., 2000); và Bruce McFarland Lockhart, The End of the Vietnamese Monarchy (New Haven, Conn., 1993).
[12] David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (Berkeley, 1971).
[13] Về chế độ quân chủ của các nước Đông Dương khác, xem Milton Osborne, Sihanouk: Prince of Light, Prince of Darkness (Sydney, 1994) và các công trình nghiên cứu khác của ông; Grant Evans, The Last Century of Lao Royalty (Bangkok, 2009); và Mangkra Souvannaphouma, Laos: Autopsie d’une monarchie assassinée (Paris, 2010).
[14] Tước hiệu chỉ vua của các xứ Hồi giáo được tôn là quốc giáo (ND).
[15] Tước hiệu chỉ vương công Ấn Độ (ND).
[16] Tước hiệu chỉ thống đốc các tỉnh thuộc Đế quốc Ottoman (ND).
[17] Tước hiệu chỉ người đứng đầu các nước Algeria, Tripoli và Tunis dưới thời Đế quốc Ottoman từ năm 1671 trở về sau (ND).
[18] Søren Ivarsson và Christopher E. Goscha, “Prince Phetsarath (1890–1959): Nationalism and Royalty in the Making of Modern Laos,” Journal of Southeast Asian Studies 38:1 (2007): 55–81.
[19] Sách dẫn nhập hay nhất về quá trình thực dân hóa của Pháp là Pierre Brocheux và Daniel Hémery, Indochina: An Ambiguous Colonization, 1858-1954 (Berkeley, 2009).
[20] Để bác bỏ bất kỳ quan điểm nào liên quan đến sự thống nhất đất nước, người Pháp không chịu sử dụng từ “Việt Nam”, cho rằng Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ là những thực thể riêng biệt. Pháp gọi người cai trị ở Huế ban đầu là vua, sau đó là hoàng đế An Nam.
[21] Cuối những năm 1700, các nhà truyền giáo người Pháp tại Việt Nam đã khuyến khích những nỗ lực của Nguyễn Ánh trong việc giành quyền kiểm soát đất nước với tư cách là vua Gia Long. Những người kế vị ngay sau ông tỏ ra không mấy phù hợp với lợi ích của Pháp. Đây là một trong những cái cớ để thực dân Pháp can thiệp vào Việt Nam cuối những năm 1800.
[22] Nguyễn Thế Anh, đã dẫn.
[23] Marcel Gaultier, Le Roi proscit (Hà Nội, 1940).
[24] Tran My-Van, A Vietnamese Royal Exile in Japan: Prince Cuong De (1882-1951) (London, 2005).
[25] Nguyễn Thế Anh, “L’Abdication de Thanh-Thai,” Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême-Orient 64 (1977): 257-264.
[26] Pierre Brocheux, “De l’Empereur Duy Tan au Prince Vinh San: L’Histoire peut-elle se répéter?” Approches Asie (1989-90): 1-25; E.-P. Thébault, “Le Tragique Destin d’un empereur d’Annam,” France-Asie 200 (1970): 3-40; Nguyễn Phúc Bảo Vàng, chủ biên, Duy Tan, Empéreur d’Annam 1900-1945 exilé à l’Ile de la Réunion, ou le destin tragique du prince Vinh San (Sainte-Marie, La Réunion, 2001). Bộ sách do Bảo Vàng chủ biên (về cơ bản là một tuyển tập các tài liệu sơ cấp đương thời) đã cung cấp nhiều tư liệu nguồn cho bài viết này.
[27] William J. Duiker, Ho Chi Minh (New York, 2000), 35.
[28] Xem Brocheux, “De Duy Tan.”
[29] Khâm sứ Trung Kỳ muốn xử tử Duy Tân, nhưng Thượng thư Bộ học (Việt Nam) (Duy Tân yêu con gái vị Thượng thư này) đã thuyết phục Viện Cơ mật đề nghị phế truất ông. Người lãnh đạo cuộc nổi dậy trước khi bị hành quyết cũng cầu xin để hoàng đế được sống. Xem Nguyễn Thế Anh, Monarchie, 72-73.
[30] Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925, 233.
[31] Phan Chau Trinh, “Monarchy and Democracy,” trong Phan Chau Trinh and His Political Writings (Ithaca, NY, 2009), 136-137.
[32] Về tự truyện cuộc đời ông, xem Bảo Đại, Le Dragon d’Annam (Paris, 1980).
[33] Trích dẫn từ Brocheux, “Duy Tan”.
[34] Julian Mockford, Pursuit of an Island (London, 1950), 52.
[35] Martin Thomas, The French Empire at War, 1940-45 (Manchester, 1998); và Eric Jennings, Vichy in the Tropics (Stanford, 2001).
[36] Brocheux, “Duy Tan”, đã dẫn.
[37] Xem Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam, 1944-1947 (Oxford, 1996); và Stein Tønnessen, Vietnam 1946: How the War Began (Berkeley, 2010).
[38] Charles de Gaulle, Mémoires de guerre, Tập III (Paris, 1959), 230.
[39] David Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley, 1995), 547.
[40] Về quan điểm của các tác nhân khác nhau, xem Frédéric Turpin, De Gaulle, les gaullistes et l’Indochine, 1940-1956 (Paris, 2005), 190-194; Pierre Journoud, De Gaulle et le Vietnam (1945-1969) (Paris, 2011), 31; và Le Général de Gaulle et l’Indochine, 1940-1946. Colloque tenu par l’Institut Charles-de-Gaulle, les 20 et 21 février 1981; établis par Gilbert Pilleul (Paris, 1982), đặc biệt là các trang 199-201.
[41] Các nhà sử học Mác-xít truyền thống ở Việt Nam đã vinh danh ba vị hoàng đế bị lưu đày này vì quan điểm chống thực dân của họ. Từ giữa thập niên 80, các sử gia đã có những quan điểm mới về triều Nguyễn mà trước đây từng bị lên án vì chế độ phong kiến, Nho giáo cực đoan và thất bại trong việc xua đuổi thực dân. Xem Bruce Lockhart, “Re-assessing the Nguyen Dynasty,” Crossroads, 15:1 (2001): 9-53.
[42] Xem Roger Kershaw, Monarchy in South-East Asia: The Faces of Tradition in Transition (London, 2001); và Maurizio Peleggi, Lords of Things: The Fashioning of the Siamese Monarchy’s Modern Image (Honolulu, 2002).
[43] Patrice Morlat, Indochine années vingt: Le Rendez-vous manqué (1918-1928) (Paris, 2006), 278.
[44] Peter Zinoman, The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940 (Berkeley, 2001).
[45] Christiane Bougerol, “Chronique d’une crise coloniale et son contexte: Les Vietnamiens de Nouvelle-Calédonie (1945-1964),” Journal de la Société des Océanistes 110 (2000-2001): 83-95.
[46] Danielle Donet-Vincent, “Les Bagnes des Indochinois en Guyane”, Outre-Mers 330-331 (2001): 209-221.
[47] Daniel Varga, “Les Vietnamiens à La Réunion, de la deportation à l’émigration volontaire (1859-1910)”, Outre-Mers 374-375 (2012): 233-274.