Lê Tấn
Bài viết “Tết ở thôn làng miền Nam” của tác giả Lê Tấn đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 37, tháng 1/1974 tái hiện sinh động không khí Tết cổ truyền ở làng quê Nam Bộ thuở xưa. Với ngôn ngữ mộc mạc mà tinh tế, tác giả đưa người đọc trở về với một miền sông nước yên bình, nơi hoa mai nở rộ mỗi dịp Tết đến xuân về, nơi tiếng chày giã cốm và quết bánh phồng vang lên khắp thôn xóm trong những đêm tháng Chạp, nơi có những sinh hoạt lao động – như dỡ chà, tát đìa bắt cá – gắn bó mật thiết với nhịp sống cộng đồng... Đọc lại bài viết trong nhịp sống hiện đại hối hả hôm nay, người đọc không chỉ thấy lại Tết xưa, mà còn cảm nhận được chiều sâu văn hóa của vùng nông thôn Nam bộ nước ta.
Tết dân tộc trong miền Nam cũng như ngoài miền Bắc vẫn cùng chung một phong vị truyền thống lâu đời trên một dải non sông thống nhất. Tết đến, đào miền Bắc, mai vàng miền Nam đều nở rộ. Bánh chưng và bánh tét vẫn chung một chất nhân. Dân gian hai miền đều vui thưởng xuân trong niềm tưởng nhớ ngọn nguồn.
“… Tết ở xã tôi chỉ có nhiều bông mai thôi. Những cây mai da mốc meo, xù xì, mùa mưa lá xếp lại, đứng lẫn trong các bụi rậm, các góc vườn, bờ mương, không ai nhìn thấy. Rồi chúng rụng lá đi, hồi nào cũng chẳng hay. Thân cây chỉ còn trơ lại những cành xương xẩu, khẳng khiu, chim chóc không buồn đến đậu, gió cũng chẳng buồn reo vui trên đó. Nhiều ngày như vậy trôi qua, cây mai như người có chuyện chi phải sống cam tâm, nhẫn nhục. Vậy rồi, chỉ qua một vài đêm gió lạnh, qua ba bốn bữa có chim tu hú kêu, những cây mai bỗng nở tưng bừng, tỏa ánh vàng rực rỡ từ đầu xóm đến cuối xóm. Gió thổi những cánh bông rung rinh, rớt rụng đầy trên mặt đất, trôi theo các mương rạch, ao hồ. Chim vàng anh, chim trao trảo bay về đậu rỉa lông, chim hút mật kêu líu lo, chim chìa vôi nhảy nhót đung đưa chiếc lông đuôi dài có điểm trắng. Cả những con chim sâu nhỏ như hạt mít xám màu đất cũng bay nhảy tung tăng dưới gốc mai, hai mắt như hai hạt sương lấp lánh ánh nắng ban mai. Vườn tược, cây cối, đường làng, mái lá, cây rơm đều đượm màu vàng. Mây trời cũng vàng ánh…”.
Tôi rất thích thú đi đọc đoạn văn trên đây của Lê Văn Thảo mô tả quang cảnh Tết của một làng quê trên sông Vàm Cỏ Đông, nơi tôi đã trải qua một thời thơ ấu. Cây mai tượng trưng cho loài hoa Tết ở miền Nam. Cây mai vàng báo hiệu ngày xuân đến có phần đột ngột, nhưng không khí Tết lại có trước đó nhiều ngày, lúc nó còn đứng nép mình trơ cành lá. Khi những cánh én đầu tiên chao lượn trên bầu trời, cùng với ngọn gió bấc se lạnh từ phương Bắc thổi về làm lao xao những bông lúa chín cong trái me nặng trĩu hạt vàng, thì khắp làng mạc thôn quê người ta bắt đầu bàn chuyện sắm sửa ăn Tết.

“Tết nhất sắp đến nơi rồi!”, người ta nhắc câu ấy như một điệp khúc, trong những đêm ngồi quanh cối đâm cốm dẹp thơm ngát hương nếp đầu mùa. Mỗi gia đình nông dân Nam Bộ đều có dành một thửa ruộng trên khu đồng của mình cấy một giống nếp ngon thơm để đồ xôi, làm bánh. Khi những dé lúa nếp bắt đầu lấm tấm những hạt đỏ ở đuôi (chưa chín già), nhà nào cũng chọn cắt ít bó về đâm cốm dẹp ăn mừng gạo mới. Trong những đêm đầu tháng Chạp này, khắp xóm thôn đâu đâu cũng rộn ràng tiếng chày giã cốm “cúp cum” nghe rất vui tai. Và cùng với tiếng chày giã cốm nhộn nhịp, tưng bừng, câu chuyện bàn về ngày xuân sắp đến càng thêm náo nức bên những chiếc cối bốc lên mùi nếp mới thơm lừng. Nam nữ thanh niên bàn việc tổ chức nhiều trò chơi Tết, các tiết mục liên hoan văn nghệ. Người lớn tuổi, chủ gia đình trù tính mua vải, lụa gì đẹp may quần áo mới cho trẻ nhỏ, quết bao nhiêu trăm bánh phồng, gói bao nhiêu đòn bánh tét. Họ thương lượng với nhau “ăn đụng” thịt lợn, nghĩa là mấy gia đình giết chung một con. Họ còn rủ nhau vần công tát đìa, dỡ chà bắt cá.
Cá trên đồng ruộng Nam bộ rất nhiều. Vào mùa mưa, khi cá lên đồng kiếm ăn và sinh sôi nảy nở, người ta chọn những nơi ruộng trũng đào đìa, tạo thành những cái hầm hình chữ nhật sâu độ ba thước, rộng khoảng năm ba thước, dài chừng năm bảy thước. Khi lúa trổ bông, nước trên đồng bắt đầu cạn dần. Con cá tìm đường thoát, gặp những hầm nước chui vào, yên trí nằm lại tưởng đã thoát ra sông, nhưng chúng nào ngờ đã bị con người đánh bẫy. Gặt hái xong, đồng khô nứt nẻ, người ta dùng gàu giai tát cạn, bắt ở mỗi đìa cũng được vài tạ lóc, trê, rô. Dọc theo sông, bà con nghĩ ra cách bắt cá rất lý thú: đặt chà. Họ đốn nhiều nhánh cây có cha, có chôm[1] đem cắm thành lùm to vài chục thước chiều dài, sát theo mé sông (vẫn còn chừa đủ đường nước cho thuyền đi). Cá sông tìm đến bóng râm lùm bụi ấy chui đục[2]. Hôm nào muốn bắt cá chà, đợi nước triều lên, bà con vác đăng ra bủa vây vòng tròn kín cả đống chà. Khi nước rút xuống, một số người vào trong đăng nhổ chà, một số ở ngoài áp đăng dần vào, thít chặt vòng vây ngày càng hẹp lại. Đến lúc khoảng không gian thu hẹp còn bằng vòng tròn vài chiếc nong, thì cá nhốt bên trong không tìm ra lối thoát, bị nột nhảy rộ lên trông thật là thích mắt. Bây giờ, những người dỡ chà chỉ còn việc cho vợt vào xúc, như bắt cá trong rọ. Ngày Tết thịt không thiếu gì, nhưng người ta vẫn thích có thêm món cá cho đủ mùi vị.

Khi mùa màng thu hoạch xong, lúa đã đổ vào bồ, thì không khí Tết ở thôn làng rộn lên trong tiếng chày quết bánh phồng. Loại bánh này làm bằng gạo nếp nấu chín bỏ vào cối giã như giã giò, quết cho thật nhuyễn, rồi ngắt từng viên cỡ nắm tay dùng ống tre xoa mỡ cán mỏng ra thành hình tròn như chiếc bánh đa nem, dày độ một ly. Gọi là bánh phồng, vì khi để lên lửa nướng nó phồng tướng lên cả chiều dày, lẫn vòng tròn. Chiếc bánh mỏng như chiếc đĩa ấy, khi nướng chín, nó nở to bằng cái chậu thau rửa mặt, và chiều dày phồng lên hơn một phân tây. Thường trước khi nướng, người ta xẻ đứt bốn đường chung quanh vòng tròn chiếc bánh, để khi đặt lên lửa nó “phát huy” hết sức “chùi”, tức là cái độ nở phồng của nó. Trẻ con ngồi bên đống lửa rơm nướng bánh phồng không chỉ thích thú chờ nếm cái hương vị ngọt, thơm, giòn đượm, xốp xộp của nó, mà còn thích thú ngắm chiếc bánh bé tẹo bỗng chốc nở phồng to ra thật nhanh tưởng như làm trò ảo thuật! Vào những ngày giáp Tết, đi khắp làng, từ đầu thôn trên đến xóm dưới, ở sân nhà nào cũng thấy trải rộng dưới nắng những chiếc đệm hoặc chiếu dày đặc bánh phồng tẩm đường, vàng óng màu mật ong. Và trên các mái nhà, trên hàng rào râm bụt trắng xóa những nong bột nếp phơi khô để dành gói bánh ếch[3].
Tất cả các thứ trên đây đều chuẩn bị xong trước ngày hai mươi bảy tháng Chạp. Vì Tết ở đây không đợi đến giao thừa đêm ba mươi mới bắt đầu, mà chính ra nó bắt đầu tưng bừng, náo nhiệt nhất vào những phiên chợ đêm mua bán suốt sáng. Tập quán này chỉ thấy có trên miền Bắc ở khu vực bán hoa của ba mươi sáu phố phường Hà Nội.


Ở miền Nam, bắt đầu từ hai mươi bảy tháng Chạp ta, khắp nơi mở những phiên chợ Tết cho đến giao thừa đêm ba mươi. Trong mấy ngày đó, từ thành phố Sài Gòn đến tỉnh, huyện, và các làng ở đầu mối giao thông, các phiên chợ họp suốt đêm. Tất nhiên quang cảnh, màu sắc chợ Tết thì đông vuvi, rực rỡ hơn ngày thường. Quầy hàng hoa tươi, rau quả, bánh mứt, vải vóc, thịt cá… đều trang hoàng hấp dẫn. Nhưng đông vui nhất phải nói là chợ dưa. Ở miền Bắc, dưa hấu ra quả vào mùa hè, nhưng ở miền Nam nó lại chín rộ vào dịp Tết. Tại các chợ, thuyền chở dưa đổ lên chất thành đống như núi. Nổi tiếng nhất là dưa Trảng Bàng, Trà Vinh… Bổ quả dưa ra, ruột đỏ như son, hạt đen huyền nhỏ rứt, thịt óng ánh như hạt đường kính, ăn ngọt “tê cả răng”. Đấy là một loại quả vừa rẻ, vừa ngon, chiếm lĩnh thị trường chợ Tết. Nhà nào nghèo mấy cũng có thể mua hàng chục, trước cúng tổ tiên, sau làm quà cho trẻ nhỏ.

Những quả dưa hấu này còn có một tác dụng trang trí. Nhà ở nông thôn Nam bộ thường xây ba gian, hai chái. Gian giữa là nơi trang trọng nhất, phần bên ngoài để dành tiếp khách, phần sát vách bên trong đặt bàn thờ ông bà. Gian giữa là nơi được chú ý trang hoàng đẹp nhất của gia đình trong dịp Tết. Mấy ngày xuân, vào thăm nhà nào, ta cũng thấy một quang cảnh trưng bày quen thuộc: trên bàn thờ, hai quả dưa hấu to cỡ giỏ ấm tích. Người ta dán trên lớp vỏ xanh mượt của mỗi quả một miếng giấy hồng điều cắt thành hình bông hoa xinh xắn, và đặt nó ngồi chễm chệ giữa mấy nải chuối chín vàng tươi xếp vây tròn quanh mặt chiếc đĩa bằng sứ màu trắng. Mỗi quả dưa đội lên đầu một trái hồng khô ép dẹp như trùm lên chiếc mũi nồi màu xám. Người ta còn đặt lên trên cùng một quả quýt chín đỏ mọng, giống như cái mào gà ngất ngưởng. Đôi dưa hấu bầu bĩnh màu xanh biếc “ngự” trên hai đĩa trái cây, nằm đối diện hai bên góc bàn thờ, cạnh đôi chân đèn thờ, cạnh đôi chân đèn sáp. Cành hoa mai vàng cắm trong chiếc độc bình để giữa sau lư hương tỏa ra những cánh hoa rực rỡ. Tất cả phối hợp màu sắc với nhau, làm rực rỡ cả gian nhà có treo nhiều câu đối đỏ.
*
Khác với chợ Tết Nam bộ chỉ họp đến đêm giao thừa (sau đó, ngày mồng ba mới họp lại), chợ Tết Gia Lạc ở Huế lại đông vui nhất vào sáng mồng một. Bà con trong thành Huế đi tìm thú vui xuân ở làng quê, bước đến bến đò đã nghe âm vang náo nức của chợ Tết Gia Lạc qua tiếng hô bài chòi thôi thúc ở các chòi cao. Chính nơi đây là trung tâm hấp dẫn nhất của các cuộc vui. Các cụ già thì “lai rai” nhắm rượu với nem chua An Cựu, những người trẻ thì nhấm nháp mè xửng, mứt gừng, vừa nghe đàn, nghe sáo phụ họa theo tiếng rao bài chòi. Không khí vui náo nhiệt hẳn lên khi có người tới (tức ù). Ngay lúc đó một hồi trống thật tưng bừng vang lên báo hiệu chào mừng thắng lợi. Cả dàn nhạc đàn sáo, kèn trống cất cao giọng, rộn rịp hộ tống người rao bài chòi rước phần thưởng đưa đến tận chòi người thắng cuộc. Đang lúc người chơi bài may mắn hân hoan nhận thưởng, một tràng pháo chúc mừng nổ ran, khói tỏa mù mịt.

Vui chợ Tết Gia Lạc, bên cạnh khu trung tâm bài chòi, còn có nhiều đám nói vè, hò giã gạo. Đấy là một hình thức văn nghệ dân gian, mở rộng cho tất cả mọi người. Ai có khả năng thì cứ tự nhiên xung phong ra trình diễn. Người nói vè miệng hát, tay trái lắc xâu tiền, tay phải đánh trống, chân nhịp sanh. Cuộc chơi này ít khi nào bị ngắt quãng, người hát trước chưa dứt, đã có người khác chực sẵn vào thay. Vây quanh cuộc vui hò giã gạo đông nhất là đám thanh niên. Bên chiếc cối giã đủ cả chày (nhưng không có gạo, vì chỉ vờ giã để lấy cớ hò với nhau) họ chen chúc vây quanh, đợi đến lượt để cùng nhau qua câu hò, trao đổi tâm tình, hoặc nhắn nhủ lòng yêu nước, động viên tinh thần hăng hái làm tròn nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc. Đã mười mấy năm qua, truyền thống và phong vị Tết dân tộc ấy đâu còn nữa!
*
Người xưa đã làm câu đối nêu lên đặc trưng của những phong vị Tết cổ truyền Việt Nam:
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”
Thật vậy, phong tục vui xuân trong Nam ngoài Bắc có nhiều chỗ giống nhau. Về trò chơi Tết, cả đàng Trong lẫn đàng Ngoài đều có những cuộc vui phổ biến như múa sư tử, đánh đu, chọi gà, nhất là đến thăm hỏi chúc mừng nhau… Tết đến, từ Hữu Nghị Quan đến mũi Cà Mau, nhà nào cũng treo câu đối đỏ, mua sắm nhiều thịt, cá… Nhưng trong các tập quán đại thể giống nhau đó, mỗi miền còn có những phong vị riêng của các địa phương.
Mỗi gia đình miền Nam vui xuân cũng dựng nêu, đốt pháo, nhưng lại thích gói bánh tét, chứ không gói bánh chưng. Kể ra cái khác nhau giữa bánh tét và bánh chưng cũng chỉ ở hình thức bên ngoài. Còn “nội dung” bên trong của hai thứ bánh đều giống nhau: cũng gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn…
Bánh tét có nhiều loại: bánh tét chay, bánh tét mặn, bánh tét ngọt. Bánh tét chay không có nhân. Người ta chỉ trộn đỗ đen lẫn vào nếp, rồi gói lại đem nấu. Có thể cho thêm vào cùi dừa nạo nhuyễn để tăng vị béo. Bánh này ăn không đậm đà, nhưng phù hợp với khẩu vị của những người tu hành ăn chay, kiêng kị thịt, mỡ. Gọi là bánh tét mặn, hay bánh tét nhân mỡ, vì gói nó ít dùng nhân thịt như bánh chưng. Người ta trải gạo nếp trên lá chuối, rải lớp đỗ xanh lên, rồi đặt một thỏi mỡ gần bằng ngón chân cái dài suốt đòn bánh như một sợi bấc, xong cuốn tròn lại buộc chặt. Bánh tét ngọt nhân làm bằng đỗ xanh xào đường.

Bánh tét được cái để dành lâu, hàng mươi ngày sau vẫn còn dùng tốt. Có lẽ vì thời tiết Nam bộ Tết vào mùa nắng nóng, không rét như ở miền Bắc, nên bà con ở đây nghĩ ra cách gói bánh thành đòn buộc chặt như vậy để chống thiu. Tôi còn nhớ, một lần địch càn vào xã đúng vào ngày Tết, có người đem vứt bánh tét giấu dưới ao. Hàng tháng sau mò lại được những chiếc bánh tét còn bỏ sót lại dưới đáy ao, mở ra vẫn còn nguyên vị.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, chiếc bánh tét đã góp công với cách mạng, nhất là trong những năm đầu đen tối của cuộc kháng chiến chống Mỹ lần này. Trong những năm gian khổ trước đồng khởi đó, cán bộ ta bị địch đánh bạt lên rừng. Bà con đã tiếp tế cho họ những đòn bánh tét. Tết dân tộc trong Nam ngoài Bắc đều chung một phong vị truyền thống từ lâu đời. Tấm lòng mỗi người dân Việt Nam ở cả hai miền, hơn lúc nào hết, đều hướng về một mùa xuân thống nhất. Tâm cảm và lòng người đều mong muốn hoa đào xen lẫn hoa mai, bánh chưng bên bánh tét và dưa hấu bày cùng cam bưởi trong một mùa vui xuân hòa hợp và thống nhất của hai miền.■
[1] Nhánh cây có nhiều nhánh con, nhiều chạc [BTV]
[2] Chui rúc, luồn lách vào chỗ kín, tối, rậm rạp [BTV]
[3] Bánh ít [BTV]

