Skip to content
  • ĐĂNG KÝ LÀM THẺ
  • ĐĂNG KÝ TẢI TÀI LIỆU SỐ
Thư viện Nguyễn Văn Hưởng

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng

CỔNG THÔNG TIN – NVH LIBRARY'S PORTAL

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu thư viện
    • Đội ngũ nhân sự
    • Liên hệ
    • Báo chí
    • Tuyển dụng
  • Dịch vụ thư viện
    • Câu hỏi thường gặp
    • Bảng giá dịch vụ
    • Đăng ký làm thẻ
    • Đăng ký tài khoản Thư viện số
  • Tài nguyên
    • Blog tư liệu
    • Xuất bản
    • Tin tức
  • Danh mục sách
  • Thư viện số
  • Trưng bày trực tuyến
  • Toggle search form
  • Vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa – Trường Sa theo hướng tiếp cận toàn bộ, toàn diện của lịch sử Việt Nam Blog tư liệu
  • Nhà báo Mỹ điều trần trước Thượng viện về chuyến thăm miền Bắc Việt Nam cuối năm 1966 Blog tư liệu
  • Giới thiệu tác giả: John Prados, chuyên gia khám phá các bí mật của chính phủ Mỹ Blog tư liệu
  • Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: Quan điểm của một nhà báo Mỹ Blog tư liệu
  • Rút quân khỏi Hà Nội Blog tư liệu
  • Tài liệu giải mật: Các cuộc họp bên lề Hội nghị Geneva 1954 Blog tư liệu
  • Tâm trạng người Mỹ quanh vụ Tập kích Sơn Tây Blog tư liệu
  • Hoạt động tình báo ở các đô thị Việt Nam bị địch tạm chiếm giai đoạn 1945 – 1954 Blog tư liệu
  • Jean-Paul Sartre và tình cảm với Việt Nam Blog tư liệu
  • Những “Chủ nhân Đỏ” tiếp quản Hà Nội Blog tư liệu
  • Giới thiệu sách: The Culture of South-East Asia Blog tư liệu
  • Con đường dẫn tới cuộc đảo chính năm 1963 ở miền Nam Việt Nam Blog tư liệu
  • Sứ mệnh của báo chí Blog tư liệu
  • Giới thiệu sách: Phantasmatic Indochina Blog tư liệu
  • Giới thiệu sách: Wartime writings 1943 – 1949 Blog tư liệu

Một vài dân tộc miền núi ở An Nam

Posted on 27/01/202627/01/2026 By editor No Comments on Một vài dân tộc miền núi ở An Nam

Jean Baptiste Alberti

Lê Hằng Nga (dịch)

Tiếp nối loạt bài của tác giả Jean Baptiste Alberti trong cuốn sách “Đông Dương xưa và nay” (L’Indochine d’autrefois et d’aujourd’hui) xuất bản năm 1934 là bài khảo cứu giới thiệu khái quát về một vài dân tộc thiểu số sinh sống ở nước ta thời xưa. Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu tài liệu tới bạn đọc, các từ ngữ và ý kiến của tác giả trong bài được giữ nguyên để đảm bảo tính khách quan.

1. Người Thái và người Thổ

Nguồn gốc của những nhóm dân tộc Thái đã được trình bày khi nói về lịch sử của người Khmer; ở Bắc Kỳ, người An Nam ở vùng đồng bằng, người Thái lại định cư ở vùng trung du, độ cao khoảng 400m. Họ hình thành hai nhóm người: người Thổ ở phía bắc sông Hồng, và người Thái ở phía nam.

Đặc biệt ở vùng Lạng Sơn, Thất Khê, Cao Bằng, dân tộc Thổ là nhóm chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất, trước là từ Trung Hoa, sau là từ người An Nam. Ngôn ngữ của họ chứa nhiều từ gốc An Nam; họ dùng chữ Hán; trang phục của họ có kiểu dáng giống người An Nam, dù có màu xanh lam (nhuộm chàm), trong khi trang phục người An Nam có màu nâu (nhuộm bằng củ nâu). Tổ chức hệ thống chính trị của họ cũng gợi nhớ đến hệ thống của người An Nam, nhưng khác ở điểm họ có các dòng họ quan lại cha truyền con nối gọi là “Thổ ty”. Cũng như người An Nam, người Thổ chủ yếu làm ruộng lúa nước, họ cũng biết trồng lúa nương và ngô.

Một chiếc cối người Thổ tại Hòa Bình dùng để xay gạo khoảng năm 1937 – 1938. Ảnh chụp bởi Lucienne Delmas

Từ thế kỷ XVI, sau các thỏa thuận không cần dùng tới bạo lực, người Nùng – một nhóm Thái khác – từ Quảng Tây đến hòa nhập với người Thổ. Người Nùng chung sống với các nhóm người Thổ khác. Họ rất chăm chỉ, vì thế họ dần sở hữu ruộng lúa nước và tạo dựng đời sống vật chất không kém gì người Thổ.

Một nhóm phụ nữ người Thổ ở Hòa Bình đang tụ họp trong làng khoảng năm 1937 – 1938. Ảnh chụp bởi Lucienne Delmas

Người Thái lại chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ, đặc biệt là về chữ viết và Phật giáo. Tuy nhiên, ở thung lũng sông Đà và vùng núi ngăn cách thung lũng này với sông Hồng tồn tại một khu vực chuyển tiếp, cũng giống như vùng núi Thanh Hóa và Nghệ An. Ở nơi đó, các cộng đồng người Thái chỉ chịu ảnh hưởng chữ viết từ Ấn Độ, không chịu ảnh hưởng và không theo đạo Phật.

Người Thái được chia thành nhiều nhóm, phổ biến nhất là người Thái Đen và người Thái Trắng. Người Thái Đen cư trú ở khu vực giữa sông Đà và sông Hồng, người Thái Trắng sống ở phía nam sông Đà.

Người Thái Đen hay Thái Trắng đều có chung một gốc tộc. Tên gọi của họ khác biệt bắt nguồn từ đặc điểm trang phục mà người phụ nữ mặc. Phụ nữ Thái Đen dùng vải sẫm màu và không có họa tiết gì làm giảm vẻ nghiêm trang đó; trong khi ở nhóm Thái Trắng, chiếc áo cánh có màu trắng, có móc cài bằng bạc kèm vài món đồ trang trí đầy màu sắc.

Chân dung hai em bé người Thái ở Thanh Hóa và Sơn La chụp khoảng năm 1937 – 1938. Nguồn: Bảo tàng Quai Brainly

Ảnh hưởng từ người An Nam đến người Thái ít thấy rõ hơn so với người Thổ. Ngôn ngữ của họ chứa ít từ gốc An Nam hơn, họ không dùng chữ Hán mà dùng một hệ thống chữ viết phiên âm bắt nguồn từ các bảng chữ cái Ấn Độ, tổ chức theo kiểu phong kiến của họ cũng mạnh mẽ hơn nhiều so với người Thổ.

Trang phục của người Thái nhìn chung có nét tương đồng với người Hoa. Cả nam lẫn nữ đều để tóc dài và đội một loại khăn vấn bằng lụa hoặc vải bông thô dệt trong nước, nhuộm chàm thật đậm. Ở nam giới, hai đầu khăn thả xuống hai bên mặt; còn nữ giới, sau khi che phần đỉnh đầu, khăn buông xuống mềm mại ở vai phải trông thật duyên dáng.

Trang phục của nam giới là một chiếc quần ống rộng và chiếc áo dài đến đầu gối, một dải khăn buộc áo ở eo, trên đó họ đeo dao rựa hoặc loại gươm thường dùng để phát cây. Phụ nữ mặc váy bằng vải bông mà họ tự dệt, nhuộm chàm đậm đến mức nhìn gần như màu đen; chiếc váy bó vào hông và đùi, dài đến bắp chân. Họ mặc chiếc áo kiểu bolero ở phần thân trên, nối liền với váy ở phần thắt lưng. Dù rất đơn giản, bộ trang phục này lại mang vẻ duyên dáng và đầy màu sắc đặc trưng.

Đặc điểm chung của người Thái và người Thổ

Nhìn chung người Thái và người Thổ có thể trạng khỏe mạnh và vóc dáng cao. Nét mặt đậm, gò má cao, mắt ít hoặc hầu như không xếch, nước da chủ yếu màu vàng nhưng có nền trắng mờ.

Tầng lớp cai trị đeo trang sức bằng vàng, vòng ngọc; những người khác đeo vòng cổ và vòng tay nặng cùng các loại đồ trang sức bằng bạc, hầu như làm bằng bạc khối, chẳng hạn như trâm cài tóc, khuyên tai, bộ dụng cụ ăn trầu…

Nhà của người Thái và người Thổ gần như đều dựng trên cột từ thân cây. Khung nhà bằng gỗ, các khoảng trống thì dùng tre nứa chẻ dập để che chắn; sàn nhà cũng được làm theo kiểu đó, có độ đàn hồi nhất định khiến khách châu Âu thường có phần lo lắng. Mái nhà lợp bằng rạ, bằng những tấm ván nhỏ xếp như ngói phẳng hoặc bằng thân tre bổ đôi, lợp như loại ngói bán trụ ở miền Nam nước Pháp. Trong nhà có nhiều gian, ngăn bằng các vách tre có cùng độ dày với tường bao bên ngoài. Gian trang trọng nhất đặt bàn thờ tổ tiên, đồng thời cũng là nơi tiếp khách và họp mặt. Mùa hè nhà nóng, mùa đông lại lạnh, luôn ám khói vì không có ống khói. Khoảng trống từ mặt đất lên sàn nhà dùng vào việc nhốt trâu, heo, gà vịt, nhờ đó bảo vệ chúng khỏi thú dữ vốn sợ tiếng ồn, ánh lửa và tiếng động từ những hoạt động của con người.

Một ngôi nhà của thủ lĩnh người Thái tại Sơn La khoảng năm 1937. Ảnh chụp bởi Lucienne Delmas

Ở trong nhà, dụng cụ giã gạo là thứ quan trọng. Loại cối đạp bằng chân khiến cả căn nhà rung theo nhịp đều đặn. Nhưng việc giã gạo thường được thực hiện bằng cối nước, nước từ suối được dẫn vào chiếc máng đặt ở đầu đòn bẩy của chày. Khi máng đầy, cán chày hạ xuống, nước đổ hết ra còn chày rơi xuống đập vào gạo.

Tính cách của người Thái và người Thổ ở Bắc Kỳ gần giống người Lào: ngay thẳng, dễ mến, vui vẻ và hòa thuận. Họ yêu thương con cái, kính trọng và vâng lời cha mẹ, những người miền núi chất phác này không lo toan quá nhiều về tương lai. Họ chịu đựng khó khăn giỏi và xem thường cái chết. Coi trọng truyền thống như nhiều dân tộc phương Đông khác, họ không mấy quan tâm tới tiến bộ, nhưng lại có tinh thần đoàn kết mạnh mẽ. Khi mất mùa, người giàu giúp người nghèo, và nếu cần, kho dự trữ lúa ngô của các tù trưởng được chia đều ra đến khi cạn sạch. Họ hỗ trợ lẫn nhau trong mọi việc: chẳng hạn như khi dựng nhà thì cả làng đều chung tay, khi hoàn thành, chỉ duy nhất một bữa ăn tươm tất hơn thường ngày đã là khoản “trả công” cho những người tự nguyện giúp sức. Mạnh mẽ và rắn rỏi, người Thái và người Thổ siêng năng hơn, giỏi làm nông hơn, khéo léo và sáng tạo hơn hầu hết các dân tộc miền núi khác.

Chẳng phải chính họ là những người biết dẫn nước từ những nguồn xa bằng các đường mương đục men theo sườn núi để tưới ruộng lúa nước đó sao? Còn đối với những thửa ruộng nằm trên cao, họ cũng biết dùng guồng nước thô sơ nhưng chắc chắn, bố trí khéo léo, giúp đưa nước từ những mạch thấp hơn lên cao 4-5m. Họ còn biết tận dụng các thác nước tự nhiên hoặc nhân tạo để vận hành cối xay và giã gạo. Họ cũng rất sáng tạo trong việc làm bù nhìn động đậy đặt trong ruộng để đuổi hươu và nai.

Giống người Thái ở Lào, người Thái ở Bắc Kỳ và An Nam sống rất đơn giản, họ chỉ cần khai thác rừng là cũng đủ giàu mà không phải vất vả nhiều. Họ thích vui chơi, lễ hội, chỉ chịu làm ruộng đủ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Đàn ông sẵn sàng để phụ nữ làm nương rẫy và chăm sóc nhà cửa. Ngược lại, họ giữ vai trò mua bán những sản vật hiếm hoi phục vụ trao đổi, và đặc biệt là lo các công việc của cộng đồng, họ dành phần lớn thời gian những ngày nhàn rỗi của mình vào việc đó.

Một tốp vũ nữ người Thái chuẩn bị cho lễ hội các loài hoa ở Lai Châu năm 1928. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Tổ chức xã hội của người Thái và người Thổ cũng mang tính chất quý tộc. Trong mỗi vùng (mường, châu), các tầng lớp Lang đạo và Quan lang giữ quyền cai trị địa phương, nhưng đứng cao nhất vẫn là Tạo Mường, người nắm cả quyền dân sự và tôn giáo, thường là chư hầu của một lãnh chúa lớn hơn.

2. Người Mường

Người Mường cư trú ở vùng chân núi thấp phía tây nam Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ. Họ tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An.

Tuy vóc dáng có nhỉnh hơn đôi chút, nhưng về mặt thể chất, người Mường trông khá giống người An Nam. Họ khỏe mạnh, rắn rỏi, có thể trạng cứng cáp. Trang phục của họ cũng gần giống người An Nam nhưng thường được may bằng vải màu chàm.

Phụ nữ Mường thì khác hẳn phụ nữ An Nam: thân hình vạm vỡ, từ nhỏ đã quen gánh vác nặng nên họ dễ không còn đủ sức khỏe và lão hóa sớm. Trang phục của họ cũng khác hẳn phụ nữ An Nam. Thay vì mặc quần áo tối màu, họ mặc một kiểu váy rất ngắn, buộc quanh eo như thắt lưng. Vai và ngực che bằng một kiểu áo ngắn giống áo khoác, và thay cho khăn đội đầu, họ quấn một dải vải trắng đơn giản lỏng lẻo quanh đầu.

Kiểu tóc của phụ nữ người Mường ở Hà Tĩnh. Ảnh chụp bởi Jeanne Cuisinier khoảng năm 1937 – 1938

Nhà của các vị tù trưởng khá rộng, những nhà khác thì nhỏ. Kích thước ngôi nhà thay đổi tùy vào địa vị xã hội của chủ nhân. Mỗi nhà đều có một sân nhỏ phía trước với hàng rào tre khô bao quanh. Dọc hàng rào thường có vài bụi tre, cây chuối, thỉnh thoảng có một vườn rau nhỏ và một vài cây ăn quả rải rác.

Nhà người Mường đều làm theo cùng một kiểu, có hình chữ nhật và dựng trên cột. Khung nhà bằng gỗ, tường thường là tre đan, sàn bằng tre dập đặt lên các thanh gỗ hoặc tre, mái lợp bằng rạ hoặc lá cọ.

Chiếc thang gỗ không tay vịn dẫn lên hiên nhà, nằm trước khu sinh hoạt. Tại hiên này, người ta phơi quần áo, thóc lúa và đủ các loại nông sản, đồng thời rửa các dụng cụ sinh hoạt. Ngôi nhà gồm hai phần: gian nối liền với hiên trước, dùng làm nơi tiếp khách và là chỗ đàn ông tụ họp; phần còn lại được chia thành nhiều khoang hoặc nhiều buồng, dành riêng cho phụ nữ. Đồ đạc trong nhà rất đơn sơ, chỉ có vài chiếc chiếu và mấy cái ghế thấp bằng mây tre đan. Cũng như người Thái, khoảng trống dưới sàn dùng làm nơi nhốt gia súc.

Người Mường là một cộng đồng khá cần cù, chủ yếu làm nông. Tuy nhiên, đàn ông chỉ cày bừa, chuẩn bị ruộng nước, đi câu cá hoặc săn bắn. Thời gian còn lại, thường xuyên tới 6 tháng trong năm là họ nghỉ ngơi. Phụ nữ thì trái lại, làm việc nhiều hơn và quanh năm suốt tháng: nuôi nấng con cái, chăm sóc nhà cửa, bếp núc, chuồng trại; từ sáng sớm đã phải giã gạo cho cả ngày, quay tơ, kéo sợi, dệt vải. Đó vẫn chưa phải tất cả; họ còn phải chăm và tưới vườn vào mùa khô; xuống suối gánh nước bằng những ống tre dài khoảng 2 mét; gieo mạ, cấy, nhổ cỏ và gặt lúa.

Người Mường nói cùng một ngôn ngữ, nhưng có những biến âm riêng theo từng nhóm hay từng bộ tộc. Ngôn ngữ này chỉ là một phương ngữ của tiếng An Nam, hoặc một dạng tiếng An Nam cổ. Không có hệ chữ viết riêng, nhưng các thủ lĩnh thì biết chữ Thái và chữ Hán, và họ là những người duy nhất được phép học chữ – theo tục lệ, dân thường bị cấm học.

Tổ chức chính trị của người Mường mang tính chất phong kiến với các thủ lĩnh cha truyền con nối. Ngày nay, người ta đồng thuận xem người Mường là bà con gần gũi với người An Nam, nhưng trình độ phát triển thấp hơn. Chắc chắn rằng: “Dù nhìn vào những ngôi nhà dài dựng trên cột và chế độ quý tộc, người Mường thoạt nhìn có vẻ rất khác người An Nam – những người dựng nhà ngay trên mặt đất và chức danh thủ lĩnh đã mất hẳn trước sự phát triển của quyền lực trung ương. Nhưng sự tương đồng về ngôn ngữ, tín ngưỡng và truyền thống đều chứng thực một nguồn gốc chung”.

3. Các dân tộc miền núi khác của Bắc Kỳ và Lào: Dao, H’Mông, Lô Lô

Ở bậc thấp hơn một chút trong thang bậc “văn minh”, có những nhóm dân tộc miền núi khác, trong đó quan trọng nhất là Dao, H’Mông và Lô Lô, thường gặp rải rác ở phía Bắc và Tây Bắc Bắc Kỳ, cũng như vùng phía Bắc Lào. Người ta thường cho rằng phần lớn các nhóm này đến từ miền Nam Trung Quốc vào thời kỳ tương đối muộn.

Người Dao

Người Dao thường sống trên các sườn núi ở độ cao 400–800m, ở phía trên so với nơi người Thổ và Thái cư trú trong thung lũng. Người H’Mông thì ở các độ cao trên 900m, có nơi lên đến 1500m. Sự phân bố này một phần phản ánh thứ tự di cư: người Thái tới trước nên ở vùng đất tốt nhất ở thung lũng; người Dao đến sau thì ở cao hơn; và người H’Mông đến muộn nhất nên phải sống trên các vùng cao nhất. Ngoài ra, người H’Mông còn thích nghi tốt với khí hậu vùng núi cao – họ có câu tục ngữ: “Cá thì bơi dưới nước, chim thì bay trên trời, người H’Mông thì sống trên núi”.

Làn sóng di cư của người Dao vào Đông Dương bắt đầu từ 4-5 thế kỷ trước và vẫn tiếp diễn. Giống như người Nùng, họ đến trên cơ sở đàm phán với những cư dân trước, thậm chí những thỏa thuận chính thức vẫn còn tồn tại.

Về dáng vẻ, người Dao thường mang tầm vóc trung bình, rắn chắc, “cơ bắp như thép”, rất bền bỉ. Trang phục nam là áo và quần kiểu Trung Hoa, bằng vải bông dệt thô và nhuộm chàm đậm; trên đầu quấn khăn lớn buông xuống vai. Phụ nữ mặc quần rộng, gấu quần thêu hoa văn đỏ, xanh, trắng; họ mặc áo tunic dài, làm bằng vải bông thô, xẻ hai bên hông, phía trước mở hoàn toàn để có thể buộc hai vạt lại.

Nhà của người Dao thường là nhà sàn thấp bằng ván, lợp rơm, xây trên nền đất phẳng. Gồm: phòng lớn phía trước là nơi đặt giường nhỏ, bếp lửa, vũ khí; phòng chứa đồ phía sau; một dãy phòng nhỏ liên tiếp nhau, nối bằng hành lang chạy dọc tường. Nhà sạch sẽ và thoáng khí.

Người Dao chia thành nhiều nhóm, một số nói tiếng Dao, số khác dùng tiếng Trung hoặc tiếng Thái. Một vài nhóm biết khá nhiều chữ Hán. Họ được xem là dễ cai quản vì trình độ cao hơn đa số các tộc khác.

Người H’Mông

Người H’Mông lúc đầu di cư hòa bình, chậm rãi. Nhưng về sau có hai đợt xung đột lớn (đầu thế kỷ XIX và năm 1860), họ chiếm một số vùng bằng vũ lực. Họ tập trung ở các vùng Đồng Văn, Pả Vi, Sapa, Lai Châu…

Họ cao gầy nhưng khỏe mạnh. Trang phục gồm áo cài bên hông, quần rất rộng, dáng Trung Hoa, và họ cạo đầu, chỉ để một búi tóc nhỏ cuốn bằng khăn vải. Nam nữ đều tự dệt vải bông thô và nhuộm chàm. Người H’Mông Trắng mặc đồ trắng, thường viền cổ và tay áo màu xanh.

Nhà của người H’Mông rất đơn sơ: nhà vách tre dẹt, kiểu nhà đất, ít chống chọi tốt với mùa đông. Nhà chia làm hai phần: phòng tiếp khách ở ngoài, có bếp giữa phòng, các phòng riêng ngăn bởi vách tre; khu bếp – sinh hoạt cơ bản ở gian sau.

Khi người Pháp đến, người Thổ tự nhận họ là “chủ” của người H’Mông và thu thuế người H’Mông.

Chân dung một người phụ nữ người H’Mông trong trang phục có họa tiết đặc trưng ở Cao Bằng những năm 1920. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Người Lô Lô ở Bắc Kỳ số lượng rất ít, là một nhánh của dân tộc Lô Lô ở vùng Vân Nam. Họ chủ yếu sống ở Bảo Lạc và Hoàng Su Phì.

4. Đặc điểm chung của các dân tộc miền núi

Sau khi đã nêu những điểm khác biệt giữa các nhóm cư dân miền núi, cần phải nhấn mạnh – như ông Gourou đã quan sát, rằng:

“Các nhóm này giống nhau nhiều hơn là khác nhau. Những đặc điểm điển hình gần như giống hệt; những khác biệt quan sát được cũng không lớn… Tất cả đều có nước da vàng, tóc đen dày, mắt nâu, mặt tương đối dẹt, mắt hơi xếch (hoặc đôi khi không). Về mặt văn hóa, những yếu tố pha trộn khác nhau cùng tồn tại, và trong đó ảnh hưởng Trung Hoa – vốn đến muộn nhất – lại mạnh nhất ở tất cả các nhóm.”

Tính du cư

Hầu hết các dân tộc miền núi đều sống cuộc đời ít nhiều du cư.

Ở Đông Dương, mỗi dân tộc chọn nơi ở tùy theo nơi họ tin rằng có thể tìm được kế sinh nhai và sống yên ổn với tín ngưỡng cùng những điều kiêng kỵ của họ. Về nguyên tắc, sản phẩm nông nghiệp và đất trồng trọt là yếu tố quyết định. Người An Nam và người Khmer có cuộc sống định cư vì đồng bằng nơi họ sinh sống cho phép điều đó: một thửa ruộng có thể nuôi sống họ quanh năm. Nhờ vậy họ có thể lập làng xã lớn, xây dựng công trình kiên cố, và tạo nên những nền văn minh rực rỡ. Từ lâu họ đã hiểu rằng sự ổn định dân cư là điều kiện đầu tiên để phát triển.

Ngược lại, với các dân tộc miền núi khác, nhu cầu định cư ít mạnh mẽ hơn. Điều này xuất hiện bởi các lý do như đất đai thường kém màu mỡ; họ ít khi thích lao động nặng; yêu tự do, không thích ràng buộc; tin vào nhiều điều cấm kỵ; nhu cầu vật chất ít; rừng núi cho phép họ dễ dàng tìm thức ăn.

Người Thái, Thổ, Mường sống ở thung lũng và sườn đồi, làm ruộng nước, nhưng phải bỏ ra công sức cực kỳ lớn: làm ruộng bậc thang, dẫn nước qua hệ thống thủy lợi phức tạp. Việc này thể hiện sự khéo léo và sáng tạo của họ. Tuy nhiên, khó khăn địa hình và tính cách không thích lao động quá nặng khiến một số nhóm Thái vẫn bán du cư.

Người Dao và người H’Mông còn mang tính định cư ít hơn, vì có rất ít đất ruộng nước nên phải dựa vào làm nương rẫyđể có gạo nương.

Phương pháp làm rẫy: Rẫy là kỹ thuật đốt rừng để tạo đất trồng. Quy trình họ làm như sau:

  • Phát dọn rừng, nhưng chỉ làm ở mức tối thiểu.
  • Chặt nhiều cây cách mặt đất 1–1,5m, để lại “gốc cao”.
  • Cây đổ và bụi rậm để nguyên, đợi đến mùa thì đốt tại chỗ.
  • Trong lớp tro tàn, họ dùng gậy chọc lỗ rồi gieo lúa nương (loại không cần nước) hoặc ngô.
  • Chờ cho đến mùa thu hoạch.

Một khu rẫy được canh tác ba năm liên tiếp, sau đó đất kiệt dinh dưỡng, người ta bỏ đi và mở rẫy mới ở nơi khác. Nếu việc đốt không nhằm mục đích giữ đất làm bãi chăn thả, thì rừng sẽ mọc lại dù kém phong phú hơn; sau khoảng 30 năm, khu đất đó lại có thể dùng làm rẫy.

Rẫy và việc đốt rừng khiến rừng núi nhanh chóng trông như ô bàn cờ, những mảng đất mới đốt ngày càng nhiều hơn rừng già. Với phương pháp này, rừng nguyên sinh nhanh chóng biến mất, và các dân tộc sống nhờ vào việc làm rẫy cần những vùng rừng cực kỳ rộng lớn.

Phương tiện sinh sống

Người miền núi tự sản xuất hầu hết mọi thứ họ cần. Bông và gai dầu để làm quần áo và thêu thùa; đồ trang sức bằng bạc cho cả nam và nữ – vì theo một tập tục, họ tin rằng bạc giúp “giữ chặt” các linh hồn sinh khí, vốn có xu hướng rời khỏi cơ thể. Vật liệu từ tre nứa đã giã dập và các loại thực vật khác để dựng nhà – dù là nhà sàn bằng gỗ hay nhà nền đất; các loại ngũ cốc, rau và cây công nghiệp họ cần: lúa, ngô, đậu, bí, khoai lang, khoai mỡ, dâu giấy, kê, cao lương, lúa mạch gà, đậu Hà Lan, đậu tằm, kiều mạch, cây thuốc phiện, và ở một số nhóm Lô Lô còn có chút ít lúa mì.

Khi mùa màng thất bát, họ tìm trong rừng thức ăn thay thế: củ, nấm, mật ong rừng, chè rừng, lõi các loại cọ, bột sắn… Đồng thời, rừng cũng cho họ nhiều sản vật khác: gỗ, tre, song mây, gạc nai, và ở miền Nam Bắc Kỳ cùng Lào còn có nhũ hương và nhựa cánh kiến. Tất cả đều là những mặt hàng mà thương nhân rất ưa chuộng, giúp người miền núi đổi lấy những thứ còn thiếu. Rừng còn cung cấp sản phẩm săn bắn: người miền núi dùng những khẩu súng cực kỳ thô sơ do họ tự chế, cũng như tự làm thuốc súng.

Ở những vùng thấp hơn, đánh cá cũng được coi trọng và là nguồn bổ sung quan trọng cho khẩu phần ăn. Ngoài ra, họ còn có chăn nuôi, một nguồn lợi khác để tăng thu nhập. Khi rẫy đã bỏ hoang, khu đất ấy trở thành đồng cỏ tự nhiên, chỉ còn thiếu gia súc. Người miền núi nhận ra đây là cách tăng nguồn sống không tốn nhiều công sức, và họ biến chăn nuôi thành một ngành sinh kế đáng kể. Họ nuôi: bò, trâu, ngựa, lợn, gia cầm.

Những người Thái ở Thanh Hóa đi đánh cá đang kiểm tra mẻ cá của họ. Ảnh chụp bởi Lucienne Delmas khoảng năm 1937 – 1938

Trâu là loài ưa môi trường ẩm ướt, nhưng vẫn được thấy rất nhiều ở vùng núi – nơi rừng cung cấp cho nó nguồn thức ăn dồi dào và nó gần như tự sống được. Người miền núi – đặc biệt là người H’Mông – ăn thịt bò và trâu thường xuyên hơn cư dân đồng bằng. Họ không dùng sữa và không biết đến tầm quan trọng của các chế phẩm từ sữa như bơ hay phô mai. Bò và trâu còn rất cần thiết cho cày bừa, kéo gỗ từ rừng về bản hoặc ra bờ sông để thả trôi theo dòng nước.

Người miền núi nuôi ngựa chủ yếu để chở hàng. Họ dùng ngựa thồ, và khi có đường, họ dùng xe thô sơ hai bánh, không có nhíp, thân xe bằng gỗ, mái vòm bằng tre đan. Một chiếc xe thường được kéo bởi một con ngựa. Ai từng đi vùng cao đều thấy những đoàn xe dài nối nhau của người miền núi. Khi đến gần đồng bằng, loại xe này thậm chí không còn xuất hiện nữa.

Lợn cũng rất quan trọng trong kinh tế miền núi, vì nuôi rất nhàn – thức ăn của chúng chủ yếu là thân cây chuối. Ban đầu, người miền núi nuôi gia súc chỉ để bổ sung thực phẩm và phục vụ vận chuyển. Nhưng vì đồng bằng thiếu đồng cỏ, nên thiếu gia súc, khiến nhu cầu mua trâu bò từ vùng trung du và miền núi tăng cao. Nhờ vậy, gia súc trở thành một trong những mặt hàng quan trọng nhất trong hoạt động buôn bán giữa miền núi và đồng bằng, dù người miền núi không chăn nuôi theo kiểu công nghiệp mà chỉ làm ở mức vừa đủ.

Người Hoa

Trong số các nhóm người miền núi, cũng có sự hiện diện của một số nhóm người Hoa làm nông nghiệp. Họ đến định cư lâu dài và góp phần tạo nên sự ổn định dân cư tại các vùng này.

Nhóm đông nhất nằm ở khu vực Móng Cái; đó là người Hoa Hẹ (Khách Gia). Sau một thời gian dài thâm nhập rải rác, đến các năm 1822 và 1832, họ kéo đến đông đảo, thậm chí xung đột và đẩy người An Nam và người Thái vốn đã định cư ở vùng ấy ra khỏi địa bàn.

Một vài nhóm nhỏ, tản mác hơn của người Hoa cũng đến định cư tại những vùng khác, đáng chú ý là khu vực Đông Quan và Hoàng Su Phì.

5. Các nhóm dân được gọi là “thổ dân”

Ngoài những nhóm cư dân đã được nhắc tới ở trên (người An Nam, Chăm, Lào, Thái, Thổ, Mường, Dao, H’Mông, Lô Lô, Hoa Hẹ), còn có những nhóm khác đã ở sâu trong các vùng hiểm trở khó tiếp cận của xứ An Nam, Campuchia và Lào để né tránh các sắc dân “thượng đẳng” đánh bại và đẩy lùi họ.

Trong tiếng An Nam gọi là “Mọi”, tiếng Lào là “Kha”, tiếng Campuchia gọi là “Phnong” – đều là những từ mang nghĩa “hoang dã”. Các nhóm dân tộc này cư trú ở hai sườn Đông – Tây của dãy Trường Sơn, các cao nguyên phía Nam và một phần lớn các vùng núi của Lào. Ở sườn phía Tây Trường Sơn và các cao nguyên phía Nam, một số nhóm được biết đến rõ hơn dưới các tên như Xơ Đăng, Gia Rai, Ba Na, Êđê, Chơ Ro, Stiêng.

Phần lớn những nhóm này được xem là thổ dân bản địa, một vài nhóm có liên hệ với chủng Mã Lai. Ở tất cả các dân tộc này, ta có thể thấy gần như nguyên vẹn những nét của người Indonesia. Trong quá trình hình thành cư dân Đông Dương, họ là những người đã kế tiếp lớp cư dân đầu tiên là Melanesia.

Những cư dân này có đặc điểm thấp bé (trung bình cao 1m57), da ngăm đỏ, tóc hơi xoăn, mắt thẳng. Mặc dù phân bố trên một lãnh thổ rộng khoảng 140.000 km2 từ đèo A Yên đến thượng nguồn sông Đồng Nai, tất cả những “bộ lạc” này đều có các đặc điểm chung như sau: Họ làm rẫy, trồng lúa, ngô, khoai, sắn, củ nâu. Vì dùng phương thức canh tác này, họ là những người bán du mục, kết hợp với hái lượm, săn bắn, đánh cá và chăn nuôi kiểu thô sơ.

Nhà cửa của họ dựng trên những cột cao, và đôi khi có hàng chục gia đình cùng sống chung một nhà. Các căn nhà tập trung thành làng, những người độc thân thì ở nhà cộng đồng.

Nhà rông của người Bana – ngôi nhà chung nơi tổ chức các sinh hoạt cộng đồng và là công trình quan trọng nhất trong làng. Ảnh chụp bởi Marcel Ner khoảng năm 1920 – 1926.

Những “thổ dân” này đều tin vào thuyết vật linh và không biết chữ, họ cũng không dùng tiền. Ngôn ngữ của họ không có lịch sử chữ viết, kể đến như Ba Na, Êđê, Stiêng, Xơ Đăng, Gia Rai. Ngôn ngữ này được xếp vào nhóm ngữ hệ Nam Á.

Dưới ảnh hưởng của các dân tộc lân cận hoặc do những nguyên nhân khó xác định, tổ chức xã hội của họ phân hóa rõ rệt. Ở nhóm bộ lạc như Gia Rai, Êđê… huyết thống theo dòng mẹ, họ có xu hướng theo mẫu hệ: con mang họ mẹ và chỉ con gái mới được thừa kế. Ở nhóm khác, gia đình theo phụ hệ: tên họ và tài sản được truyền từ người cha.

Người Lào và người Thái thường bắt những dân tộc này làm công việc nặng nhọc, giữ họ trong tình trạng nửa nô lệ.

Các bộ tộc ở sườn đông dãy Trường Sơn không thích và không muốn giao thiệp với người An Nam. Ngược lại, họ sống hòa thuận với người Chăm khi làng của họ ở gần nhau. “Người Chăm giữ được nền văn minh xưa kia – một uy tín tự nhiên với các bộ tộc – và những bộ lạc này hiển nhiên chấp nhận điều đó”. Chỉ cần một lời kêu gọi, họ sẽ từ núi xuống, làm những công việc nặng của làng hay làm phu khuân vác. Trong những nghi lễ lớn của người Chăm, hầu như luôn có nhóm tộc người bản địa tham gia. Những đồ trang sức thờ cúng, các báu vật bằng bạc, vàng, kho tàng của những vị vua Chăm qua đời đều được giao cho các bộ tộc này giữ; họ được tin tưởng tuyệt đối. Sau lễ, họ sẽ mang những đồ vật đó về cất giữ vào nơi hiểm trở trong địa bàn của mình.

Những người dân này trao đổi hàng hóa với các bộ tộc lân cận và người ở đồng bằng những con trâu, ngựa, voi, các loại gia vị quý – những thứ đối với họ không có giá trị, hoặc ngũ cốc, gia cầm, trái cây để đổi lấy muối hạt, cá khô, dây đồng, dụng cụ, vải vóc, v.v. Vì không biết giá trị của những món đồ mình muốn mua nên họ thường bị thương nhân các dân tộc khác bóc lột.

Công cụ lao động gồm dao (bên trái) và lưỡi cắt (bên phải) của người Stiêng ở Bình Phước khoảng năm 1946. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Thế có phải là họ thật sự “man rợ” không? Trừ một số bộ tộc đôi khi xuống đồng bằng phá làng, nói chung, họ hiền lành, ôn hòa. Mặt khác, như ông Robequain đưa ra nhận xét: “Họ hoàn toàn không phải “người nguyên thủy”, từ lâu họ đã bỏ dùng công cụ đá, họ có những kỹ thuật thủ công rất đáng chú ý, biết làm nông nghiệp; truyền thống và tín ngưỡng của họ thể hiện một chuỗi dài kinh nghiệm địa phương cùng ảnh hưởng từ các dân tộc khác”.■

Blog tư liệu Tags:dân tộc, Đông Dương, Pháp, thuộc địa, văn hóa

Post navigation

Previous Post: Tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam
Next Post: Phùng Khắc Khoan: Ngoài 70 tuổi còn đi sứ Tàu ba lần

More Related Articles

Ký sự của một tù nhân An Nam ăn Tết ở Guyane thuộc Pháp đầu thế kỷ XX Blog tư liệu
Tết miền Bắc Blog tư liệu
Mỹ – Pháp ủng hộ Ngô Đình Diệm sau Hiệp định Genève Blog tư liệu
Lịch sử Viễn Đông trong kho tài liệu của Viện IRFA, Hội Thừa Sai Paris Tin tức
Những thiên hình vạn trạng của nạn hối lộ thời Pháp thuộc Blog tư liệu
Nguy cơ can thiệp quân sự từ Hoa Kỳ trong giai đoạn đàm phán Hội nghị Genève 1954 và chiến lược của quốc gia này Blog tư liệu

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

  • Tạp chí Phương Đông Official Channel
  • Thư viện Nguyễn Văn Hưởng Fanpage
Tạp chí Phương Đông số tháng 10-2024

Chuyên đề

  • Việt Nam trên báo Mỹ
  • Tạp chí Phương Đông

Kết nối với chúng tôi

Nguồn tài liệu

  • The Vietnam Center and Sam Johnson Vietnam Archive
  • MSU Vietnam Group Archive
  • The Wilson Center Digital Archive
  • The National Security Archive
  • CIA Historical Collections
  • Office of the Historian – U.S. Department of State
  • National Archives
  • Internet Archive
  • United Nations Archives
  • Journal of Vietnamese Studies
  • Harvard-Yenching Library
  • Yale University Digital Collections: Maurice Durand Han Nom
  • Digital Libraries – Gallica – BnF
  • Les Archives nationales d’outre-mer
  • Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient
  • Sách Đông Dương – Thư viện QGVN
  • Thư tịch Hán Nôm – Thư viện QGVN
  • Báo chí số hóa – Thư viện QGVN

Bài mới

  • Phùng Khắc Khoan: Ngoài 70 tuổi còn đi sứ Tàu ba lần
  • Một vài dân tộc miền núi ở An Nam
  • Tín ngưỡng và tôn giáo của người An Nam
  • Việt Nam trên báo Mỹ: Cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam
  • Tài liệu giải mật: Dự đoán của CIA về các ý định của miền Bắc Việt Nam sau khi ký Hiệp định Paris

Lưu trữ

TRƯNG BÀY KỶ VẬT CHIẾN SĨ

Tags

1945 1954 1975 Bảo Đại Báo chí Campuchia Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh Đông Dương chế độ thực dân chủ nghĩa thực dân Chủ tịch Hồ Chí Minh CIA Cách mạng Tháng Tám giới thiệu sách Hoa Kỳ Huế Hồ Chí Minh Hà Nội Mỹ nghệ thuật ngoại giao Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu phong trào phản chiến phong tục phản chiến Pháp POW/MIA Quan hệ Việt - Mỹ Sài Gòn thuộc địa Thập niên 1960 Thực dân Pháp triều Nguyễn Tết tình báo Vietnam War Việt Minh Việt Nam Cộng hòa Việt Nam thời hậu chiến Việt Nam trên báo Mỹ văn hóa Đảo chính Đông Dương Đông Nam Á

Đăng ký

  • ĐĂNG KÝ LÀM THẺ
  • ĐĂNG KÝ TẢI TÀI LIỆU SỐ
  • Thắng địa Thăng Long – Địa linh đất Việt Xuất bản
  • Pol Pot: Mổ xẻ một cơn ác mộng Xuất bản
  • Tầm nhìn từ Lịch sử Xuất bản
  • Chợ Lớn 1955: Ký và họa Xuất bản
  • Chuyến thăm Hà Nội Xuất bản
  • Con đường thiên lý: Hành trình kỳ lạ của các sứ bộ Anh Quốc tới Việt Nam thế kỷ 17 – 19 Xuất bản
  • Cuộc chiến của tôi với CIA: Hồi ký của Hoàng thân Norodom Sihanouk Xuất bản
  • Đối thoại với các phái đoàn Hoa Kỳ Xuất bản
  • Nước mắt mùa thu Xuất bản
  • Một góc nhìn thời cuộc Xuất bản
  • Biển Đông – Nhìn từ góc độ lịch sử và pháp lý Xuất bản
  • Giải phóng Xuất bản
  • Thế giới đang thay đổi – Trật tự đa cực xuất hiện Xuất bản
  • Miền đất vàng Đông Dương Xuất bản
  • Nước Nga trong thế giới đa cực Xuất bản

Copyright © 2026 Thư viện Nguyễn Văn Hưởng.