Ngày Johny về trong khúc quân hành – hay chẳng bao giờ về nữa
Cuối năm 1972, trong khi Hoa Kì khấp khởi hướng về một thỏa thuận cho cuộc chiến Việt Nam, nhiều phụ nữ Mỹ cảm thấy nỗi lo sợ len lỏi trong chính niềm hi vọng rất đặc biệt của họ.
Cuối năm 1972, trong khi Hoa Kì khấp khởi hướng về một thỏa thuận cho cuộc chiến Việt Nam, nhiều phụ nữ Mỹ cảm thấy nỗi lo sợ len lỏi trong chính niềm hi vọng rất đặc biệt của họ.
David Douglas Duncan, một chiến binh kì cựu của rất nhiều mặt trận, đã dành tám tuần ở Đông Dương vào năm 1953, chụp hình và ghi chép về cuộc chiến ở đây.
Trong thời điểm chuyển giao tháng 4 – tháng 5 năm 1975, người dân miền Nam Việt Nam đã đón nhận cuộc sống mới của mình như thế nào? Chúng tôi giới thiệu với bạn đọc hai bài tường thuật tình hình Đà Nẵng và Sài Gòn trên Tạp chí Time số ra ngày 5/5/1975.
Trước tình hình quân Pháp bị áp đảo ở Điện Biên Phủ, tháng 4 năm 1954, Pháp đã liên tục thúc giục Mỹ lập tức đưa quân can thiệp để “giữ” Đông Dương. Tuy nhiên, Mỹ không muốn can thiệp đơn phương, mà kêu gọi các nước phương Tây và đồng minh cùng tham gia phòng thủ để chống lại “sự bành trướng của cộng sản ở châu Á và Đông Dương”.
Các tài liệu đã giải mật của Hoa Kỳ đều cho thấy Mỹ đã can dự một cách rất tinh vi vào diễn biến Hội nghị Geneve và cuối cùng chính là nước đã chủ trương phá hoại hiệp định, ngăn chặn Việt Nam tái thống nhất bằng biện pháp hoà bình.
Năm 1983, sau nhiều chuyến đi Việt Nam và nghiên cứu hồ sơ tại nhiều viện nghiên cứu ở Mỹ, Stanley Karnow, nhà báo và nhà văn Mỹ, viết cuốn sách “Việt Nam: Một lịch sử”. Cho đến nay, đây là cuốn sách lịch sử duy nhất dựa trên nhân chứng của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Một trong những sự kiện được ông đề cập và phân tích kỹ là trận Điện Biên Phủ.
Ngay cả mục tiêu cuối cùng của những người Cộng sản là thống nhất với miền Bắc có lẽ sẽ phải chờ một thời gian chuyển tiếp khá dài, khoảng 3 đến 5 năm. Chính bà Nguyễn Thị Bình tuần trước cũng nhấn mạnh rằng những khác biệt Bắc-Nam “trong lĩnh vực kinh tế và chính trị” sẽ cần “một khoảng thời gian nhất định để thực hiện thống nhất”.
Những người tị nạn Việt Nam đã tới điểm đến đầu tiên của họ ở Mỹ: Trại Pendleton ở Nam California. Những tiểu thương và quan chức Sài Gòn, khuôn mặt hằn rõ sự mệt mỏi và đau khổ, những người vợ mím môi cố kìm nước mắt, những đứa con ngơ ngác dưới ánh nắng chói chang, xếp hàng vào trại.
Hành động cuối cùng của Mỹ trong thảm kịch Việt Nam đe dọa chia rẽ sâu sắc người Mỹ. Phần lớn, họ hoan nghênh những nỗ lực của Chính phủ trong việc cứu sống những người tị nạn. Nhưng họ phản ứng một cách thận trọng và hoài nghi, những mối lo ngại chính đáng về kinh tế xen lẫn nỗi sợ hãi phân biệt chủng tộc và bài ngoại, trước tin tức rằng hàng nghìn người tị nạn sẽ được đưa đến Hoa Kỳ.
Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã được giao một nhiệm vụ nguy hiểm: di tản những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam cuối cùng khỏi Sài Gòn bằng trực thăng. Giờ đây, quân đội và đám công chức còn phải làm một việc nữa cần thiết nhưng ngán ngẩm: quản lý và sắp xếp chỗ ở cho khoảng 120.000 người tị nạn miền Nam Việt Nam.