Cuộc chiến đầu tiên trên truyền hình

28/08/2020 10:01

Ronald Steinman*

Tôi đến Sài Gòn vào giữa tháng 4 năm 1966 với tư cách tân Phân xã trưởng của Đài truyền hình NBC. Công việc của tôi được định nghĩa một cách đơn giản là cung cấp cho Đài NBC một câu chuyện bất tận về cuộc chiến. Tôi hiểu rằng sẽ không có những nốt lặng hay những phút nghỉ một khi tin tức của chúng tôi được truyền đi từ phân xã.

Việt Nam là cuộc chiến tranh đầu tiên thực sự được đưa tin trên truyền hình; cuộc chiến và phương tiện mà hàng triệu người Mỹ sử dụng để trải nghiệm nó là hai thứ không thể tách rời. Để hiểu về cuộc chiến, người ta cần hiểu NBC cũng như các đồng nghiệp của chúng tôi tại CBS và ABC đã định hình cách kể câu chuyện đó như thế nào.

Những phóng viên truyền hình như chúng tôi đều hiểu rõ vai trò của mình. Chúng tôi đã dồn hết trí lực cho công việc. NBC News có các phân xã trên khắp thế giới, nhưng về quy mô và phạm vi thì không có phân xã nào bằng phân xã Sài Gòn.

Thông thường, một phóng viên cùng với hai người quay phim và một số ít nhân viên nữa sẽ điều hành một phân xã ở nước ngoài. Sài Gòn thì khác. Chúng tôi có năm phóng viên và năm đội quay phim, mỗi đội gồm một người quay phim, một người làm âm thanh, một phóng viên phát thanh toàn thời gian và một kỹ thuật viên phụ trách thiết bị. Nhân viên của tôi bao gồm người Nhật, người Đức, người Hàn Quốc đã chạy khỏi miền bắc trong Chiến tranh Triều Tiên, người Pháp, Anh, Ireland, Israel – và cả một vài người Mỹ. Tôi có năm tài xế Việt Nam sở hữu ô tô riêng. Họ thường lái xe đến hiện trường các cuộc giao tranh, đặc biệt là ở khu vực Sài Gòn. Tôi đã sử dụng nhiều người quay phim tự do, thường là những người Hàn Quốc sẵn sàng đưa tin về những vùng mà NBC News hiếm khi đặt chân đến. Với khoảng 500.000 lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chúng tôi chỉ có thể đưa tin ở vùng đó.

Với tư cách là Phân xã trưởng, tôi có một người quản lý văn phòng làm việc toàn thời gian, một phụ nữ trẻ người Việt chịu trách nhiệm về thị thực xuất nhập cảnh đến và đi từ Sài Gòn. Cô ấy giúp chúng tôi mua sắm, thanh toán các hóa đơn và làm việc như một nhà đàm phán và phiên dịch khi cần thiết. Trong đội ngũ nhân viên của tôi cũng có hai phóng viên Việt Nam giàu kinh nghiệm, họ lang thang trên đường phố và các hội trường của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, tường thuật lại những tin họ lấy được. Phần lớn những điều họ kể đã giúp tôi hiểu về Việt Nam nhưng ít khi được đưa vào câu chuyện. Tuy nhiên, chúng là vô giá.

Thẻ nhà báo của tác giả Ronald Steinman, năm 1972 (Ảnh: NYT)

Thiết bị của chúng tôi rất hiện đại vào những năm 1960. Chúng tôi có máy quay phim thu âm trực tiếp hạng nặng hiệu Auricon với các ổ phim có thể chứa cuộn phim 400 foot (khoảng 120 mét) tương đương với khoảng 12 phút phim, trên đó có một dải băng từ mỏng để ghi âm. Trên thực địa, các đội quay phim mang thêm cuộn phim và pin mới sạc cùng một túi màu đen để đựng các cuộn phim đã qua sử dụng và thay thế bằng phim mới. (Việc thay phim trên chiến trường là đặc biệt khó khăn và nguy hiểm.) Tính cả giá đeo vai, toàn bộ thiết bị có thể nặng tới 36 pound (hơn 16kg) – thật khủng khiếp, đặc biệt là trong rừng rậm hoặc trên vách núi trong một cuộc giao tranh. Mỗi người quay phim cũng có một máy quay vặn dây cót 16mm hiệu Bell & Howell nhỏ gọn và không thể bị phá hủy, có thể chứa ba phút phim câm. Đôi khi, kỹ thuật viên âm thanh mang theo một bộ thu âm nặng, thường kèm với băng cối và đèn pin di động.

Một nhà quay phim đang tác nghiệp ở Phú Thứ, Huế, tháng 3/1966 (Ảnh: Eddie Adams / AP)

Những nhân viên người Việt của tôi sẽ đi lại trong văn phòng hàng giờ đồng hồ mang chiếc máy quay Auricon nặng nề trên vai với hy vọng cuối cùng họ có thể trở thành nhà quay phim, một công việc đem lại nhiều tiền và uy tín hơn, nhưng cũng nguy hiểm hơn – và cung cấp những câu chuyện để kể quanh những ly cà phê Việt Nam. Một số đã được thăng tiến. Những người khác thì không. May mắn thay, tôi không bao giờ phải mang theo máy quay phim và thiết bị của nó. Tôi không hiểu sao họ có thể làm được điều đó, đặc biệt là những người có tầm vóc bé nhỏ.

Tuy nhiên, so với các phân xã ở những nơi khác, chúng tôi gặp nhiều khó khăn. Hệ thống điện thoại của quân đội Mỹ ở Sài Gòn khá rời rạc. Hệ thống điện thoại Sài Gòn cũng tồi tệ không kém. Phần lớn thông tin của tôi đến từ những cuộc gặp gỡ trực tiếp với các nguồn tin quân sự hoặc ngoại giao tại trụ sở của họ, đôi khi trong bữa trưa hoặc bữa tối, hay một buổi cà phê với bánh ngọt tại địa điểm yêu thích của tôi, quán Givral.

Hầu hết các ngày, ngay từ 4 hoặc 5 giờ sáng, tôi đã gặp một đội quay phim hoặc nhiều hơn nữa trong văn phòng phân xã khi họ chuẩn bị đưa tin về chiến dịch mới nhất của Mỹ. Không có giới hạn nào về địa điểm đưa tin. Nếu chúng tôi có thể tới chứng kiến một chiến dịch quân sự, thì chúng tôi cũng có thể đưa tin về nó. Quân đội Mỹ hầu hết đều rất hợp tác. Các tài xế của chúng tôi có thể đưa một đội quay phim đến một sân bay trực thăng thuộc Sân bay Tân Sơn Nhứt, nơi một chiếc trực thăng quân sự sẽ đưa họ đến hiện trường. Đôi khi họ di chuyển bằng máy bay và sau đó bằng xe jeep. Các đội quay phim sẽ trở lại Sài Gòn khi đã lấy được tin. Thông thường phóng viên viết và ghi âm kịch bản ngay tại hiện trường.

Khi tôi có thông tin chi tiết về một câu chuyện, tôi sẽ gửi điện báo tới cơ sở của chúng tôi ở New York. Vì chúng tôi không thể xử lý hay chỉnh sửa phim ở Sài Gòn, tôi phác thảo câu chuyện và ý nghĩa của nó, liệt kê tên những người trong đoàn làm phim, và mô tả những gì có trong mỗi cuộn phim. Tôi nói với các biên tập viên về cách xử lý phim và gửi một bản sao kịch bản nếu tôi có. Sự cạnh tranh giữa các hãng tin là rất quan trọng, vì vậy tôi cũng lưu ý họ nếu có hãng khác cũng đưa tin về câu chuyện ấy.

Người quay phim sẽ đặt cuộn phim, bản hướng dẫn cách xử lý, ghi âm kịch bản phim, bất kỳ băng ghi âm nào và các ghi chú khác vào một chiếc túi màu đỏ đặc trưng của NBC. Nếu có thể, nhóm sẽ đem cái túi đó đến một hãng hàng không thương mại ở Tân Sơn Nhứt để vận chuyển. Nó thường được một thành viên trong đoàn làm phim mang đến Tokyo, Bangkok, London hoặc những nơi khác, nơi các nhà sản xuất sẽ biên tập câu chuyện để phát sóng.

Chúng tôi quay phim các cuộc biểu tình trên đường phố và các cuộc tấn công, chúng tôi sản xuất các câu chuyện chính trị và xã hội. Nhưng công việc quan trọng nhất của chúng tôi tại phân xã là giúp cho người dân Mỹ biết được sự thật, nghĩa là đưa tin càng nhiều càng tốt về những người lính Mỹ ở chiến trường, các vấn đề của họ và những hiểm họa trong chiến tranh.

Chúng tôi hiếm khi chứng kiến các biên tập viên và nhà sản xuất cắt ghép câu chuyện của chúng tôi như thế nào. Chất lượng và độ chính xác trong công việc của chúng tôi rất cao, vì vậy đó không phải là vấn đề đối với nhân viên của tôi. Chúng tôi biết chương trình NBC nào sử dụng câu chuyện của chúng tôi, bởi mỗi ngày tôi đều nhận được một báo cáo, trong đó thường có những lời phê bình đôi khi hữu ích, đôi khi không. Những báo cáo đó rất quan trọng về mặt tinh thần vì nhờ đó, các nhân viên biết rằng các nhà sản xuất chương trình đánh giá cao công việc của họ.

Sự thật là phần lớn những gì chúng tôi đưa tin vào năm 1967 ngày nào cũng giống nhau. Đến lúc đó, việc xây dựng quân đội Mỹ lên đến nửa triệu người đã hoàn tất. Chúng tôi đưa tin về hầu hết tất cả những thứ có di chuyển, đặc biệt là khi nó liên quan đến các chiến dịch lớn của Mỹ. Thời tiết hầu như không thay đổi, trừ mùa mưa. Làm việc trên thực địa thường rất vất vả vì chúng tôi sống và làm việc với quân đội.

Năm đó không có những trận chiến mà tôi cho là vĩ đại hay đáng nhớ. Có những trận chiến đầu tiên gần Khe Sanh để giành quyền kiểm soát các con đường mòn vào Lào, một tiền đề của những điều sắp xảy ra. Có những cuộc giao tranh dữ dội trên đồi ở Tây Nguyên, phần lớn là xung quanh Pleiku và Đăk Tô. Có Chiến dịch Buffalo, trong đó Thủy quân lục chiến giao tranh đẫm máu trong những chiến hào dọc khu phi quân sự, đặc biệt là tại Cồn Thiên. Có những chiến dịch gần Campuchia như chiến dịch Junction City, với hàng ngàn quân và một cuộc nhảy dù có một không hai nhằm tìm kiếm các cứ điểm của Việt Cộng nhưng không tìm thấy.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn có thể cảm nhận được điều gì đó đang xoay chuyển – mặc dù không theo cách mà các tướng hy vọng. Số lính Mỹ tử trận tăng vọt lên 5.373 người vào năm 1967, tăng thêm 2.000 so với năm trước. Cuộc chiến vẫn tiếp tục không suy giảm như thể một quán tính kỳ lạ mà không ai nhận ra rằng kết cục sẽ đến.

Đó là một năm chết chóc liên miên. Không có vinh quang. Cuộc chiến đã khiến những người lính Mỹ mất hết dũng khí khi các vùng lãnh thổ liên tục rơi vào tay kẻ thù sau những trận giao tranh ác liệt tưởng như không có hồi kết, nhưng tôi tin rằng điều đó đã giúp họ chuẩn bị tinh thần cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân vào cuối tháng 1 năm 1968. Đối với báo giới và đối với lực lượng Mỹ, tất cả mọi thứ vào năm 1967 đã chứng tỏ giá trị của nó trong việc làm thế nào để che đậy một cuộc chiến ngày càng xấu xí và không thể thắng được.

*Ronald Steinman là tác giả của cuốn hồi ký Inside Television’s First War: A Saigon Journal (tạm dịch: Bên trong cuộc chiến đầu tiên trên truyền hình: Ghi chép từ Sài Gòn)

Nguồn: https://www.nytimes.com/2017/04/07/opinion/the-first-televised-war.html

Thư viện NVH (dịch)

Bình luận
Ấn phẩm mới
category
Phim Tư Liệu